jtemplate.ru - free Joomla templates

Phụ lục của lá thư đề ngày 30 tháng 9 năm 2009 từ các đại diện thường trực của Azerbaijan tại Liên Hợp Quốc gửi cho Tổng thư ký.
Sự gây hấn vũ trang của nước Cộng hòa Armenia đối với nước Cộng hòa Azerbaijan: nguyên nhân gốc và hậu quả
 
I. Phần giới thiệu

1. Vào cuối năm 1987, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viêt Armenia  (sau đây gọi là Armenia Xô Viết) đã công khai đặt yêu sách về lãnh thổ của vùng tự trị Nagorny Karabakh (sau đây gọi là NKAO) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Azerbaijan Xô Viết (sau đây gọi là Azerbaijan Xô Viết). Điều đó đánh dấu sự khởi đầu của việc trục xuất người Azerbaijan từ Armenia Xô Viết và NKAO, cũng như khởi xướng việc đưa ra một số quyết định trái pháp luật nhằm vào sự ly khai đơn phương của NKAO ra khỏi Azerbaijan Xô Viết.

2. Sự sụp đổ của Liên Xô cuối cùng đã giải phóng những người theo chủ nghĩa dân tộc Armenia. Vào cuối năm 1991 và đầu năm 1992 cuộc xung đột tiến đến giai đoạn quân sự. Armenia đã bắt đầu hoạt động chiến đấu trên lãnh thổ Azerbaijan. Trong giai đoạn 1992-1993, một diện tích đáng kể của Azerbaijan đã bị chiếm bởi Armenia, bao gồm Nagorny Karabakh và bảy huyện lân cận. Cuộc chiến tranh nhằm chống lại Azerbaijan dẫn đến hàng ngàn người bị chết và bị thương; hàng trăm ngàn người đã trở thành người tị nạn và bị buộc phải di dời và vài ngàn người biến mất không một dấu vết. Hầu hết các hành động tội phạm quốc tế nghiêm trọng đã được bị vi phạm trong quá trình chiến tranh.

3. Nhìn chung, các thành phần pháp lý và chính trị để giải quyết cuộc xung đột dựa trên các chỉ tiêu và nguyên tắc của luật pháp quốc tế, đặt ra trong các nghị quyết của Hội đồng Bảo an và Đại hội đồng có liên quan, cũng như trong các văn bản, quyết định phù hơp của tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) và các tổ chức quốc tế khác. Những tài liệu xác nhận, ngoài những điều khác, rằng sự chiếm đóng bằng vũ lực trên các vùng lãnh thổ của nước Cộng hòa Azerbaijan cấu thành một sự vi phạm trắng trợn của Cộng hòa Armenia đối với sự toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hòa Azerbaijan.

4. Thông qua các bức thư ngày 22 và ngày 26 tháng 12 năm 2008, và 23 tháng Giêng và 17 tháng 2 năm 2009 từ các đại diện thường trực của Azerbaijan tại Liên Hợp Quốc gửi cho Tổng thư ký, nước Cộng hòa Azerbaijan đã gửi báo cáo về "những hậu quả pháp lý của việc xâm lược vũ trang của nước Cộng hòa Armenia đối với nước Cộng hòa Azerbaijan ",1theo "tiêu chuẩn cơ bản về toàn vẹn lãnh thổ
__________________
  1  A/63/662-S/2008/812, 24 tháng 12 năm 2008.
  2  A/63/664-S/2008/823, 29 tháng 12 năm 2008.
  3  A/63/692-S/2009/51, 27 tháng Giêng năm 2009.
của các quốc gia và quyền tự quyết khi xem xét yêu sách của những người theo chủ nghĩa xét lại Armenia", 2 lần lượt theo "các trách nhiệm pháp lý quốc tế của Armenia với tư cách là người cư ngụ hiếu chiến trên lãnh thổ Azerbaijan" 3và các thông tin có tựa đề "Hỗ trợ từ các nước thành viên của Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế đối với vị thế của Azerbaijan trong xung đột bên trong và xung quanh khu vực Nagorny Karabakh của Azerbaijan", 4.

5. Trong các tài liệu này, nước Cộng hòa Azerbaijan đã xây dựng quan điểm và cách tiếp cận của mình về các vấn đề liên quan đến việc giải quyết các cuộc xung đột trên cơ sở các tiêu chuẩn và nguyên tắc áp dụng của luật pháp quốc tế.

6. Đại diện thường trực của Armenia tại Liên Hiệp Quốc thông qua bức thư đề ngày 23 tháng 3 năm 2009 đã lưu thông biên bản ghi nhớ tựa đề "Nagorny Karabakh: các đàm phán hòa bình và chính sách quân sự của Azerbaijan" 4mà có nghĩa là một phản ứng đối với các tài liệu nói trên do Azerbaijan đệ trình.

7. Trong thực tế, tài liệu này đại diện cho một nỗ lực nào của nước Cộng hòa Armenia nhằm đánh lừa cộng đồng quốc tế bằng sự giả mạo trắng trợn về các sự kiện và do đó, để biện minh cho chính sách thôn tính của nước này.

8. Nó khiến người ta tò mò rằng trong khi liệt kê trong biên bản ghi nhớ nói trên một số tài liệu tuyên bố về cuộc xung đột, phía Armenia đã không đề cập đến các nghị quyết liên quan của Hội đồng Bảo và 6Đại hội đồng 7là các phán quyết xác đáng nhất về vấn đề này, cũng như các văn bản quan trọng khác được thông qua bởi các tổ chức quốc tế, chẳng hạn như một tuyên bố của Chủ tịch văn phòng OSCE tại Hội nghị thượng đỉnh OSCE ở Lisbon năm 1996, được hỗ trợ bởi tất cả các nước tham gia OSCE trừ Armenia, và nghị quyết 1416 (2005) đã thông qua vào ngày 25 tháng 1 năm 2005 do Hội đồng Nghị viện của Hội đồng Châu Âu.

9. Ngày 02 tháng 11 năm 2008, Chủ tịch Armenia, Azerbaijan và Liên bang Nga đã ký một tuyên bố chung tại Mát-xơ-cơ-va. Tài liệu này quy định rằng, không kể các quy định khác, các quốc gia ký kết "sẽ hướng tới việc cải thiện tình hình ở Nam Cáp-ca-dơ và thiết lập sự ổn định và an ninh trong khu vực thông qua một giải pháp chính trị của cuộc xung đột Nagorny Karabakh, trên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn mực của luật pháp quốc tế và các quyết định, văn bản được thông qua trong khuôn khổ này mà sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và hợp tác toàn diện trong khu vực ".
__________________
  4  A/63/730-S/2009/103, 20 tháng 02 năm 2009.
  5  A/63/781-S/2009/156, 24 tháng 3 năm 2009.
  6  Các nghị quyết 822 (1993) ngày 30 tháng 4 năm 1993; 853 (1993) ngày 29 tháng 7 năm 1993; 874 (1993) ngày 14 tháng 10 năm 1993 và 884 (1993) ngày 12 tháng 11 năm 1993.
  7   Các nghị quyết 48/114 ngày 20 tháng 12 năm 1993, 60/285 ngày 7 tháng 9 năm 2006 và 62/243 ngày 14 tháng 3 năm 2008.
  8  A/63/781-S/2009/156, tr. 5, ch. 10.
  9  Xem phụ lục của thư đề ngày 10 tháng 11 năm 2008 từ Đại diện thường trực của Liên bang Nga tại Liên Hợp Quốc gửi Chủ tịch Hội đồng Bảo an, trong khuôn khổ này…”, biên bản ghi nhớ Armenia nhấn mạnh tham chiếu đến những từ quan trọng như "các quyết định và văn bản được thông qua trong khuôn khổ này" và do đó làm bóp méo hết sức nội dung của tài liệu có chữ ký của lãnh đạo ba quốc gia.

10. Cần lưu ý về vấn đề này là trong bản ghi nhớ nói trên được lưu hành theo yêu cầu của Armenia, tài liệu có chữ ký của người đứng đầu trong ba quốc gia được gọi là "Tuyên bố về xung đột Nagorny Karabakh", 8mặc dù trong thực tế nó có tiêu đề là “Tuyên  bố chung của Công hòa Armenia, Cộng hòa Azerbaijan và Liên bang Nga”. 9Ngoài sự hiểu sai này, trong khi các quốc gia ký kết tuyên bố trong Tuyên bố chung rằng "họ sẽ hướng tới việc cải thiện tình hình ở Nam Cáp-ca-dơ và thiết lập sự ổn định và an ninh trong khu vực thông qua một giải pháp chính trị của cuộc xung đột Nagorny Karabakh, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và các quyết định và văn bản đã được thông qua10.

11. Tuyên bố chung nêu rõ rằng "một giải pháp chính trị ... sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và hợp tác toàn diện trong khu vực". Chỉ định này làm cho suy đoán của phía Armenia về "phong tỏa đối với Armenia"  11là hoàn toàn không liên quan. Trong thực tế, nó khẳng định tính hợp lệ của quan điểm từ Azerbaijan, theo đó bất cứ hợp tác với Armenia đều là không thể chấp nhận trừ khi trạng thái này thể hiện rõ tính xây dựng của nó đối với việc giải quyết xung đột dẫn đến chấm dứt sự chiếm đóng các vùng lãnh thổ của Azerbaijan.

12. Bởi bất chấp các nghị quyết của Hội đồng Bảo an và Đại hồi đồng, mà trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế nằm trong đó và do hiểu sai bản chất của các tài liệu khác có liên quan, trong đó có Tuyên bố chung được Chủ tịch Armenia, Azerbaijan và Liên bang Nga ký kết tại Mát-xơ-cơ-va, Armenia chỉ ra rõ ai là người thực sự theo đuổi chính sách phá hoại và quân sự.

13. Armenia đổ lỗi cho Azerbaijan về việc tăng ngân sách quân sự của mình và vi phạm định mức giới hạn vũ khí. Đồng thời, quốc gia này bỏ qua việc nói rằng chi tiêu quốc phòng hàng năm của Azerbaijan vẫn còn phù hợp với tổng thể tăng ngân sách, rằng Azerbaijan tiếp tục dành một tỷ lệ nhỏ hơn nhiều trong số tổng sản phẩm quốc nội (GDP) dành cho quân đội so với Armenia và rằng quy mô của các lực lượng vũ trang của Azerbaijan là tỷ lệ thuận với dân số, lãnh thổ và chiều dài biên giới và vẫn còn ít hơn so với Armenia. 12Armenia cũng lờ đi rằng cơ chế kiểm soát vũ khí là không hiệu quả trong các vùng lãnh thổ chiếm đóng của Azerbaijan và rằng nó triển khai, ngoài tầm kiểm soát quốc tế, một số lượng lớn vũ khí và đạn dược trong những vùng lãnh thổ này.

14. Hơn nữa, Armenia thừa nhận trong bản ghi nhớ nêu trên rằng nó xem vấn đề Nagorny Karabakh như một quá khứ xa xôi. 13Trên nền này, Armenia đã đưa ra một loạt các khẳng định lịch sử bóp méo
bản chất của vấn đề và mạo hiểm thực hiện các tuyên bố xét lại dựa trên các lập luận lịch sử, mà mục tiêu trong thực tế là để chứng minh cho các chính sách bành trướng lãnh thổ tại không chỉ
__________________
10  A/63/781-S/2009/156,tr. 5, ch. 10.
11  Ibid., tr. 14, ch. 46.
12  Xem, Azerbaijan: Ngành Quản lý Quốc phòng và Cải cách, Nhóm Khủng hoảng Quốc tế
Tóm lược chính sách số 50, 29 tháng 10 năm 2008, tr. 5.
13  A/63/781-S/2009/156, tr. 7, ch. 21 và thêm.
14  Ibid., tr. 2.
Azerbaijan mà cả các quốc gia láng giềng tương tự khác. Nói cách khác, Armenia xác nhận rằng các tuyên bố lãnh hải của mình và các hành động quân sự chống lại Azerbaijan đã nhắm ngay từ đầu vào việc chiếm các vùng lãnh thổ thông qua lực lượng và thay đổi cơ bản của thành phần nhân khẩu học.

15. Trong khi cáo buộc Azerbaijan là "tuyên truyền chống Armenia, reo rắc hận thù chủng tộc và không khoan dung đối với người Armenia", 14Armenia không quan tâm đến thực tế là, không giống như Armenia đã từng thanh trừng lãnh thổ đối với tất cả những người phi Armenia và trở thành một nhà nước có một dân tộc duy nhất thì Azerbaijan lại bảo tồn đa dạng sắc tộc của mình cho đến ngày nay.

16. Thay vì cố gắng để góp phần lập lại hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực và chấm dứt cuộc xung đột kéo dài, Armenia - quốc gia chịu trách nhiệm chính về giải thoát cuộc chiến tranh với Azerbaijan lại ưu tiên cho sự leo thang với những hậu quả không thể đoán trước. Lập trường của Armenia, như được phản ánh trong bản ghi nhớ nói trên và các tài liệu và báo cáo tương tự khác đã chứng minh rằng nước này thậm chí không nghĩ đến việc tham gia vào một sự tìm kiếm hòa bình tỉnh táo và hiệu quả.

17. Cộng hòa Azerbaijan coi thái độ khiêu khích và ngôn ngữ hiếu chiến của Armenia là một thách thức mở cửa cho các nỗ lực hòa bình và quan điểm giải quyết chính trị liên tục, sự tuyên truyền không che giấu cho cuộc chiến tranh xâm lược và một mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh khu vực.

18. Thông tin dưới đây minh họa về sự hung hăng, thôn tính và chính sách phân biệt đối xử của Armenia dựa trên những định kiến lịch sử, dân tộc và tôn giáo và nhằm tạo ra một nền văn hóa đơn dân tộc cả trong nước và trong những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Azerbaijan.

19. Về vấn đề này, Azerbaijan hy vọng rằng các nước thành viên sẽ thuyết phục Armenia chấm dứt chính sách phá hoại của mình nhằm tôn trọng các tiêu chuẩn và nguyên tắc của luật pháp quốc tế được công nhận rộng rãi và đàm phán nhằm tìm kiếm một giải pháp lâu dài cho cuộc xung đột.
 
II. Bối cảnh lịch sử

20.  Khu vực Nagorny Karabakh của Cộng hòa Azerbaijan là một phần của khu vực địa lý được gọi là Garabagh (Qarabağ). Tên của vùng đất nước này bao gồm hai từ Azerbaijan: "qara" (đen) và "bag" (vườn). 15Khu vực địa lý của Karabakh bao gồm các vùng đất từ sông Araz ở phía nam tới sông Kur ở phía bắc, và từ ngã ba của sông Kur và Araz ở phía đông đến các dãy Lesser Caucasus ở phía tây.

21. Từ thời cổ đại đến khi có sự chiếm đóng của Nga vào đầu thế kỷ 19, khu vực này là một phần

__________________
15 Thuật ngữ "Nagorny Karabakh" là một bản dịch tiếng Nga của tên gốc trong Tiếng Azerbaijan - Dağlıq Qarabağ (phát âm là Daghlygh Garabagh), mà theo nghĩa đen có nghĩa là Garabagh miền núi. Để tránh nhầm lẫn, các thuật ngữ được nhắc đến phổ biến là "Nagorny Karabakh" hoặc "Karabakh" sẽ được sử dụng ở đây một cách thích hợp.
của các quốc gia Azerbaijan khác nhau. Ngày 14 tháng 5 năm 1805, Hiệp ước Kurakchay (1805) giữa Khan Ibrahim, Khan của Karabakh và Sisianov, đại diện của các hoàng đế Nga, đã được ký kết. Theo hiệp ước này, các vương quốc khan Karabakh nằm dưới sự cai trị của Nga.

22. Hiệp ước hòa bình Gulustan được ký kết giữa Nga và Iran ngày 12 tháng 10 năm 1813, đã công nhận hợp pháp hóa sự gia nhập của các vương quốc Khan phía Bắc Azerbaijan vào Nga, với ngoại lệ là vương quốc Khan Iravan và Nakhchyvan. Theo hiệp ước hòa bình Turkmanchay, ký ngày 10 tháng 2 năm 1828 - vào cuối chiến tranh Nga-Iran lần 2 (1826-1828) - Iran khẳng định từ bỏ Bắc Azerbaijan, bao gồm cả vương quốc khan Nakhchyvan và Iravan.

23. Sau khi ký kết các điều ước Turkmenchay vF Gulustan, một sự tái định cư hàng loạt nhanh chóng của người Armenia ở các vùng đất Azerbaijan đã diễn ra và sự phân chia lãnh thổ nhân tạo tiếp theo xuất hiện. 16Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng góp phần làm gia tăng số lượng của người Armenia ở Nam Cáp-ca-dơ. 17Chỉ riêng từ 1828 đến 1911, hơn 1.000.000 người Armenian đã được Nga tái định cư từ Iran và Thổ Nhĩ Kỳ ở khu vực, bao gồm các lãnh thổ Azerbaijan và 350.000 người Armenian đã xuất hiện ở đó vào giai đoạn 1914-1916.

24. Trong Đế chế Nga, lãnh thổ đã từng thuộc về Azerbaijan - trong đó bao gồm, ngoài những điều khác, khu vực hiện nay được bao phủ bởi nước Cộng hòa Azerbaijan và Cộng hòa Armenia - đã được phân chia theo một số chế độ pháp lý trong các đơn vị hành chính khác nhau. Theo sự phân chia hành chính cuối cùng, Azerbaijan đã bị chia nhỏ trong số các tỉnh Baku, Elizavetpol và Iravan, và Zagatala okrug. Tỉnh Elizavetpol bao gồm, ngoài những điều khác, khu vực hiện nay dưới sự chiếm đóng của quân đội Armenia.

25. Từ giữa các năm 1905 và 1907, người Armenia đã tiến hành một loạt các hành động đẫm máu quy mô lớn chống lại người Azerbaijan. Những tội ác đã bắt đầu ở Baku và sau đó mở rộng trên toàn bộ Azerbaijan, trong đó có các ngôi làng Azerbaijan trên lãnh thổ Armenia hiện nay. Hàng trăm khu định cư đã bị phá hủy và bị xóa sổ khỏi mặt đất, và hàng ngàn thường dân bị giết hại một cách man rợ.

26. Lợi dụng tình hình sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và các cuộc cách mạng tháng 2 và tháng 10 năm 1917 ở Nga, Armenia bắt đầu theo đuổi việc thực hiện các kế hoạch của họ dưới danh nghĩa Bolshevik. Do đó, dưới khẩu hiệu của cuộc chiến chống các phần tử phản cách mạng, vào tháng 3 năm 1918, xã Baku bắt đầu thực hiện một kế hoạch nhằm loại bỏ những người Azerbaijan tại toàn bộ
__________________
  16 Xem, ví dụ, I. Shopen, lịch sử di tích về tình trạng của khu vực Armenia trong thời kỳ sáp nhập vào Đế quốc Nga (Saint-Petersburg: Nhà xuất bản của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng đế, 1852), trang 636, 639. -641, 706; N. Shavrov, Một thách thức mới đối với vấn đề của Nga tại Transcaucasia: việc sắp bán Mughan cho người nước ngoài (Saint-Petersburg: Nhà xuất bản của Ban biên tập Bộ Tài chính định kỳ, 1911), trang 59-60.
17 Xem, ví dụ, Lịch sử của người Armenia (Yerevan: Yerevan University Press, 1980), trang. 268; Biên soạn số liệu thống kê của Caucasus (Tiflis, 1869), khối lượng I, chương I, phần III; lịch Cáp-ca-dơ năm 1917 (Tiflis: Văn phòng báo chí của Tổng đốc EIB của Caucasus, 1916)., Tr 183, 219-221; Hành vi của Ủy ban khảo cổ của vùng Cáp-ca-dơ (Tiflis, 1870), ấn phẩm IV, tl. 37, tr. 37.
tỉnh Baku. Ngoài Baku, chỉ vì liên kết dân tộc của họ, hàng ngàn người Azerbaijan cũng đã bị tiêu diệt ở các huyện Shamakhy và Guba, cũng như tại Karabakh, Zangazur, Nakhchyvan, Lankaran và các khu vực khác của Azerbaijan. Trong các khu vực này, người dân lành bị hủy diệt hàng loạt, các ngôi làng bị đốt cháy và các di tích văn hóa quốc gia đã bị phá hủy và xóa sạch.

27. Ngày 28 tháng 5 năm 1918, Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan được công bố. Cộng hòa Armenia được thành lập trong cùng một ngày. Điều 1 của Tuyên ngôn Độc lập của nước Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan quy định rằng "kể từ ngày này người dân Azerbaijan sẽ có các chủ quyền của họ. Azerbaijan mà bao gồm Đông và Nam Transcaucasia phải là một nhà nước độc lập theo pháp luật ".

28. Trong giai đoạn 1918-1920, Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan đã có quan hệ ngoại giao với một số quốc gia. Hiệp định về các nguyên tắc quan hệ chung đã được ký kết với một số nước này; 16 quốc gia đã thành lập các cơ quan đại diện của họ ở Baku.

29. Với mục đích để được kết nạp vào Hội Quốc Liên, ngày 28 tháng 12 năm 1918 Chính phủ Azerbaijan đã thành lập đoàn đại biểu dự Hội nghị Hòa bình Paris do các chủ tịch quốc hội Alimardan bay Topchubashov dẫn đầu. Nhờ những nỗ lực của đoàn đại biểu Azerbaijan và sự gia tăng mối đe dọa chiếm đóng Transcaucasia của nước Nga Xô Viết, Hội đồng tối cao của các lực lượng Đồng minh tại Hội nghị hòa bình Paris theo thông lệ đã công nhận nền độc lập của nước Cộng hòa Dân chủ của Azerbaijan vào ngày 12 tháng 1 năm 1920.

30. Vào tháng 4 năm 1919, các lực lượng Đồng minh đã công nhận tạm thời Tổng-Thống đốc của Karabakh, được thành lập bởi nước Cộng hoà Dân chủ Azerbaijan vào tháng 1 năm 1919 và bao gồm Shusha, Javanshir, Jabrayil, và Zangazur uyezds (uyezd - đơn vị hành chính lãnh thổ của Đế chế Nga, đã được áp dụng tại nước Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan và Azerbaijan Xô Viết cho đến cuối những năm 1920) với trung tâm ở thị trấn Shusha, là thuộc thẩm quyền của Azerbaijan và Khosrov bay Sultanov là thống đốc. Năm 1919, Quốc hội Armenia của Nagorny Karabakh chính thức công nhận thẩm quyền của Azerbaijan. 18 Thực tế này hoàn toàn bác bỏ những cáo buộc của phía Armenia rằng Nagorny Karabakh tại thời điểm đó sở hữu tình trạng "một thực thể pháp lý độc lập"  19 hoặc "một đơn vị chính trị độc lập”.20

31. Người dân hoan nghênh "thỏa thuận tạm thời" nồng nhiệt và đầy hy vọng. Lễ kỷ niệm được tổ chức tại Shusha để tôn vinh thỏa thuận mang lại hoà bình và trật tự cho Karabakh. Đoàn đại biểu của Armenians Karabakh 21tại cuộc họp tại Baku với Thủ tướng Azerbaijan N. Yusifbayov đã bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến Chính phủ Azerbaijan về “nghị quyết hòa bình dành cho vấn đề Karabakh”. Việc __________________
  18  Thỏa thuận tạm thời giữa Chính phủ Azerbaijan và Armenia của Nagorny Karabakh, 26 tháng 8 năm 1919 года. Để xem văn bản, tham khảo Lịch sử hình thành của vùng tự trị Nagorny Karabakh của Azerbaijan Xô Viết. 1918-1925: Tài liệu (Baku: Azerneshr, 1989), trang 23-25.. Xem thêm Tadeusz Swietochowski, Nga và Azerbaijan: Vùng biên giới trong giai đoạn chuyển giao (New York: Columbia University Press, 1995), trang 75-76.
  19  Xem ví dụ, A/63/781-S/2009/156, phần 7, đoạn 23.
  20  Xem ví dụ, Các khía cạnh pháp lý đối với quyền tự quyết trong trường hợp của Nagorny Karabakh, Phụ lục của công hàm ngày 21 tháng 3 năm 2005 từ Phái đoàn thường trực của Armenia tại Văn phòng Liên Hiệp Quốc tại Geneva gửi đến Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền, E / CN.4 / 2005 / G / 23, ngày 22 tháng 3 năm 2005, phần 2.
thông qua thỏa thuận này có nghĩa là sự thất bại của chính sách Armenia nhằm tuyên bố Nagorny Karabakh là "lãnh thổ của Armenia". Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan, lần đầu tiên ở Nam Caucasus, thông qua việc bảo đảm quyền của người Armenia tại Nagorny Karabakh, đã đặt ra trong thực tế một ví dụ về giải pháp hòa bình và dân sự cho vấn đề của các nhóm thiểu số.

32. Scotland-Liddel, một nhà báo Anh, đã viết cho Luân Đôn từ Shusha: "Hòa bình cho Karabakh. Người Armenia đã đồng ý tuân theo chính phủ Azerbaijan ... người Armenia nói với tôi rằng chưa từng bao giờ có được trật tự và hòa bình như vậy ở Shusha và Karabakh". 22 Ông nói thêm rằng: "cả hai bên đều sẵn sàng để tiếp tục cuộc sống một cách hòa bình và sẽ làm như vậy, nếu không có sự can thiệp của những người kích động quần chúng. Tôi tin rằng - bên thứ hai chịu trách nhiệm cho cuộc thảm sát Armenian-Tartar [đọc là Armenia-Azerbaijan] ở các khu vực khác của Transcaucasia. Một người tuyên truyền Armenia làm công việc của mình tận tâm, vì nó liên quan đến công tác tuyên truyền, nhưng tôi chắc chắn rằng các hoạt động của họ trong Transcaucasia chỉ là những hành động khiêu khích ".23

33. Tất cả các sự kiện nói trên làm chứng chống lại những cáo buộc của phía Armenia rằng "sau sự sụp đổ của Đế chế, Nagorny Karabakh (với 95 phần trăm là dân Armenia) từ chối không chịu dưới thẩm quyền của nước Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan" và rằng "Cộng hòa dân chủ Azerbaijan mới được công bố đã viện đến biện pháp quân sự để ngăn chặn sự quyết tâm ôn hòa của người dân Nagorny Karabakh để giành sự tự quyết ".24

34. Tuy nhiên, Armenia đã không từ bỏ yêu sách của mình đối với Nagorny Karabakh và với quan điểm áp đặt một hệ thống hành chính Armenia tại Nagorny Karabakh đã tăng cường hành động khiêu khích đó.

35. Trong khi những người Bolshevik đã đến gần biên giới Azerbaijan và phần lớn các lực lượng Azerbaijan đã được tập trung ở biên giới phía Bắc của đất nước, vào đêm Nowruz Bayramy (kỳ nghỉ Xuân) 22-23 tháng 3 năm 1920, một cuộc nổi dậy vũ trang  quy mô lớn chống lại chính phủ Azerbaijan được kích động tại Nagorny Karabakh với sự tham gia trực tiếp và liên quan của Armenia.
Các đơn vị quân đội quốc gia Azerbaijan đã đồng thời và bất ngờ bị tấn công tại Shusha, Khankandi và ở một số nơi khác. Như vậy, phía Armenia đơn phương vi phạm "thỏa thuận tạm thời". Tuy nhiên,
__________________
  21  Lưu ý: các kế hoạch của Nga để chiếm Thổ Nhĩ Kỳ cũng xác định số phận của người Albania theo Cơ đốc giáo. Người Albania Cáp-ca-dơ là một trong những tổ tiên của người Azerbaijan. Họ có nhà nước riêng của mình tồn tại từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên đến đầu thế kỷ thứ 8 trên lãnh thổ từ sông Araz ở phía nam đến Darband ở phía Bắc, đã tuyên bố Cơ đốc giáo là tôn giáo chính thức của Nhà nước vào thế kỷ thứ 4. Sau cuộc chinh phục của người Ả Rập đầu thế kỷ thứ 8, hầu hết người Albania chấp nhận Hồi giáo, trong khi một phần nhỏ theo Cơ đốc giáo. Tuy nhiên, bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ 19, sau khi ký kết các hiệp ước Gulustan và Turkmanchay, Catholicosate Albani độc lập đã được thanh lý; giáo phận của nó được sáp nhập với Armenia Echmiadzin Catholicosate và người Albania Cáp-ca-dơ theo Thiên Chúa giáo - ngoại trừ những người sống ở các huyện Gabala và Oghuz của Azerbaijan  - đã bị đồng hóa bởi người Armenia. Người dân Armenia hiện nay của khu vực Nagorny Karabakh của Azerbaijan,trừ những người định cư ở đó sau này, chủ yếu bao gồm người Albania bị Armenia hóa.
  22  Lưu trữ nhà nước của Cộng hòa Azerbaijan, f. 894, inv. 10, f. 103, p. 18.
  23  Ibid., tr.11.
  24  A/63/781-S/2009/156, tr. 7, ch. 21-22.
các phần tử nổi dậy đã gặp phản kháng nghiêm trọng từ những người lính Azerbaijan. Một ngày sau cuộc nổi dậy, Shusha được giải phóng khỏi các nhóm vũ trang, và các nỗ lực của Armenia nhằm thâu tóm vùng lãnh thổ Azerbaijan đã thất bại.

36. Các yêu sách về lãnh thổ của Armenia đối với Azerbaijan và các nỗ lực để thôn tính Nagorny Karabakh là một thực tế hiển nhiên đối với hầu hết các tác giả ở Liên Xô cũ, bao gồm cả những người Armenia. Như vậy, theo các cuốn Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô được công bố vào năm 1926, "các liên đoàn cách mạng ... đã bắt đầu tuyên bố chủ quyền trên vùng Akhalkalaki và Borchaly của Gruzia và khu vực Karabakh, Nakhchyvan và phần phía Nam của tỉnh Yelizavetpol lớn thuộc Azerbaijan. Những nỗ lực để sáp nhập mạnh những khu vực đó gây ra một cuộc chiến tranh với Gruzia (tháng 12 năm 1918) và một cuộc đối đầu đẫm máu lâu dài với Azerbaijan ... ". 25

37. Ngày 28 tháng 4 năm 1920, Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan đã bị chiếm đóng bởi nước Nga Xô Viết và Azerbaijan Xô Viết đã được thành lập.  

38. Tuy nhiên, nhiều nơi trên đất nước Azerbaijan có sự cản trở lớn dành cho những người Bolshevik, trong khi phái đoàn Azerbaijan tại Hội nghị Hòa bình Paris tiếp tục công việc của mình để nhận được sự công nhận pháp lý và để được gia nhập Hội Quốc Liên. Thông qua một bức thư đề ngày 01 tháng 11 năm 1920, người đứng đầu phái đoàn Azerbaijan tại Hội nghị yêu cầu Tổng thư ký của Hội Quốc Liên trình lên Đại hội đồng của Hội đơn xin gia nhập của nước Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan làm thành viên đầy đủ của Tổ chức.

39. Trong Biên bản ghi nhớ ngày 24 tháng 11 năm 1920, Tổng thư ký của Hội Quốc Liên đã xây dựng hai vấn đề chính sau mà sẽ được xem xét liên quan đến đơn đệ trình của Azerbaijan: "Lãnh thổ của Azerbaijan ban đầu là một phần của Đế quốc Nga, câu hỏi đặt ra là tuyên bố của nước Cộng hoà vào tháng 5 năm 1918 và sự công nhận theo các nước Đồng Minh vào tháng 01 năm 1920 đủ để tạo thành một  'Nhà nước tự chủ' Azerbaijan theo ý nghĩa của Điều 1 Công ước của Hội Quốc Liên. Nếu hội đồng xét rằng vị thế quốc tế của Azerbaijan như một "Nhà nước hoàn toàn tự trị " được đưa ra, sẽ có thêm câu hỏi là liệu Đoàn đại biểu đã thực hiện đơn đệ trình cần có thẩm quyền cần thiết để đại diện cho chính phủ hợp pháp của đất nước vì mục đích thực hiện đơn trình, và liệu chính phủ đó có ở một vị trí để thực hiện các nghĩa vụ và cung cấp cho những người được bảo lãnh có liên quan thông qua tư cách thành viên của Hội Quốc Liên hay không. "26

40. Về vấn đề đầu tiên, phần quan trọng nhất của Bản ghi nhớ nêu trên của Tổng thư ký liên quan đến "các quan sát về luật pháp", trong đó lưu ý các điều kiện quy định việc kết nạp các thành viên mới gia nhập Tổ chức nêu tại Điều 1 trong Công ước của Hội Quốc Liên,27 bao gồm các yêu cầu để trở thành một quốc gia tự trị. Rõ ràng là nhà nước, một phần đáng kể của lãnh thổ mà đã bị chiếm
__________________
  25  Đại bách khoa toàn thư Xô Viết (Mát-xơ-cơ-va: “Bách khoa toàn thư Xô Viết” JSC, 1926), tập. 3, tr. 437.    
  26  Hội Quốc Liên. Biên bản ghi nhớ của Tổng thư ký về việc xin gia nhập của Cộng Hòa Azerbaijan vào Hội Quốc Liên. Tài liệu hội đồng 20/48/108.
bởi thời điểm xem xét đơn đệ trình của Azerbaijan trong Hội Quốc Liên, nhưng Chính phủ mà đệ trình đơn này đã bị lật đổ, không thể được coi là hoàn toàn tự trị xét về cac điều khoản của Điều 1 trong Công ước của Hội Quốc Liên.

41. Khi giải quyết vấn đề thứ hai, Tổng thư ký của Hội Quốc Liên đã chỉ ra trong Bản ghi nhớ của mình rằng nhiệm vụ của đoàn Azerbaijan tham dự Hội nghị Hòa bình Paris bắt nguồn từ chính phủ đã lên nắm quyền tại Baku cho đến tháng 4 năm 1920. Như vậy , trong Bản ghi nhớ sự chú ý hướng đến thực tế rằng tại thời điểm đệ trình đơn của đoàn Azerbaijan (01 tháng 11 năm 1920) và từ ngày công bố Bản ghi nhớ (24 tháng 11 năm 1920) chính phủ của nước Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan mà đã trao quốc thư cho các phái đoàn không còn thực sự nắm quyền từ tháng 4 năm 1920. Nó đã được tiếp tục ghi nhận trong Bản ghi nhớ rằng chính phủ này đã không thực hiện thẩm quyền trên toàn bộ lãnh thổ của đất nước.

42. Do đó, Ủy ban thứ năm của Hội Đồng Hội Quốc Liên đã quyết định trong nghị quyết về việc đệ trình của Azerbaijan rằng "đó không phải là điều mong muốn trong hoàn cảnh hiện tại rằng Azerbaijan nên được kết nạp vào Hội Quốc Liên". Rõ ràng theo văn bản của nghị quyết nói trên rằng trong "hoàn cảnh hiện nay" Ủy ban thứ năm, mà không đề cập gì đến Nagorny Karabakh chỉ hiểu rằng "Azerbaijan dường như không có một chính phủ ổn định với thẩm quyền trên lãnh thổ được xác định rõ ràng ".28 Như vậy, chỉ có những lý do đó xuất phát từ các yêu cầu quy định tại Điều 1 trong Công ước của Hội Quốc Liên mà cản trở Azerbaijan được kết nạp vào Tổ chức.

43. Các văn bản nêu trên của Hội Quốc Liên chứng minh rằng phía Armenia đã nhầm, ít nhất là tin rằng Hội Quốc Liên "công nhận tình trạng tranh chấp của Nagorny Karabakh" 29 và "từ chối công nhận Azerbaijan vì đã tuyên bố chủ quyền trên các vùng lãnh thổ có dân cư sinh sống của Armenia ở Đông Transcaucasia, cụ thể là Nagorno-Karabakh ".30

44. Đồng thời, Hội Quốc Liên đã không coi chính Armenia là một nhà nước và tiến hành từ thực tế rằng thực thể này không có biên giới rõ ràng và được công nhận, cả về tình trạng cũng như hiến
pháp, và chính phủ của nó không ổn định. Kết quả là, sự kết nạp Armenia vào Hội Quốc Liên đã bị bác bỏ vào ngày 16 tháng 12 năm 1.920,31
__________________
  27  Xem thêm Công ước của Hội Quốc Liên (1919), trong Malcolm D. Evans (ed.), Tài liệu Luật quốc tế Blackstone (Oxford:. Oxford University Press, ấn bản thứ 6, 2003), trang 1-7, phần 1, Điều 1.
   28  Hội Quốc Liên. Ủy ban thứ năm. Tiếp nhận thành viên mới. Nghị quyết về các yêu cầu gia nhập được thực hiện bởi Azerbaijan. Tài liệu hội đồng 127.
  29  A/63/781-S/2009/156, phần 8, chương 26.
  30 Xem ví dụ, tuyên bố thay mặt Vartan Oskanian, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Armenia, tại Hội nghị thế giới chống phân biệt chủng tộc, phân biệt chủng tộc, bài ngoại và không khoan dung, Durban, Nam Phi, 31 tháng 8 - 7 tháng 9 năm 2001, www.un.org/WCAR/statements/armeniaE.htm; báo cáo ban đầu của Armenia theo Công ước quốc tế về kinh tế, xã hội và văn hóa, E / 1990/5 / Add.36, 09 tháng 12 năm 1998, phần 3, đoạn 3 và 17 (a).


III. Sự mở rộng lãnh thổ của Armenia và sự thay đổi các thành phần dân số trong thời kỳ Xô Viết
 
45. Các dữ kiện cho thấy rằng trong vòng 70 năm cai trị của Liên Xô, Armenia đã thành công trong việc mở rộng lãnh thổ của mình trên Azerbaijan và sử dụng mọi phương tiện có thể để trục xuất những người Azerbaijan ra khỏi vùng đất của họ. Trong thời gian này, chính sách nói trên đã được thực hiện một cách hệ thống và có phương pháp.

46. Đối với lãnh thổ của Armenia, theo học giả Armenia, trên cơ sở Hiệp ước Batoum ký kết giữa Thổ Nhĩ Kỳ với Azerbaijan, Georgia và Armenia vào ngày 04 tháng 6 năm 1918, lãnh thổ của nhà nước Armenia đầu tiên ở Nam Cáp-ca-dơ được thành lập vào ngày 28 tháng 5 năm 1918 - với thủ đô được thừa nhận bởi Azerbaijan vào ngày 29 tháng 5 năm 1918 32 hình thành tối thiểu 8.00033 -  9.00034 và tối đa là 10.000 km2 35 ở phía Tây Armenia ngày nay. Trong suốt thời gian tồn tại của Nhà nước Armenia từ 1918-1920, nó đã thất bại trong việc mở rộng lãnh thổ của mình tại các quốc gia láng giềng.

47. Ngày 30 tháng 11 năm 1920, sau khi chiếm đóng nước Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan bởi Bolshevik Nga, với mục đích Xô Viết hóa Armenia, phần phía Tây của Zangazur uyezd đã được bao gồm trong Armenia. Kết quả là, khu vực Nakhchyvan đã bị chia tách khỏi chính thể của Azerbaijan.

48. Từ ngày 12 tháng 3 năm 1922 đến 5 tháng 12 năm 1936, Azerbaijan, Gruzia và Armenia đã thiết lập các nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên bang Xô Transcaucasian (sau đây gọi tắt là TSFSR). Cho đến khi kết nạp Azerbaijan vào TSFSR, khu vực Basarkechar của New-Bayazid uyezd, cùng với hai phần ba Sharur-Daralayaz uyezd, đã được bao gồm trong Armenia. Sau khi kết nạp Azerbaijan vào TSFSR, một phần đáng kể của Gazakh uyezd, một số làng từ Jabrayil uyezd và từ CNHXCN Nakhchyvan Liên Xô tự trị đã được bao gồm trong Armenia.

49. Như vậy, do " sự Xô Viết hóa," lãnh thổ Armenia tăng từ 8.000-10.000 km2 lên đến 29.800 km vuông, chủ yếu là tại các vùng đất của Azerbaijan.
__________________
  31  Hội Quốc Liên. Phụ lục 30 B. Tình hình tương lai của Armenia. Biên bản ghi nhớ thỏa thuận của Hội đồng Hội Quốc Liên, họp tại Paris vào ngày 11 tháng 4 năm 1920. Tài liệu của Hội Quốc Liên 20/41/9, tr. 27; xem thêm phần kết nạp thành viên mới vào Hội Quốc Liên. Armenia. Tài liệu Hội đồng 209, trang 2-3. Tài liệu Hội đồng 251.
  32  Xem ví dụ, Hồ sơ lưu quốc gia về Các đảng Chính trị và các Phong trào Xã hội của Cộng hòa Azerbaijan, f. 970, inv. 1, f. 1, tr. 51.
  33  Xem ví dụ, G. Galoyan, Sự đấu tranh giành cai trị Xô Viết tại Armenia (Mát-xơ-cơ-va: Nhà Xuất bản Quốc gia về Văn học Chính trị, 1957), tr. 92.
  34  Xem ví dụ., S. P. Agayan, Tháng mười vĩ đại và sự đấu tranh của giai cấp công nhân tại Armenia để giành chiến thắng cho chính quyền Xô Viết (Yerevan: Nhà Xuất bản của Viện hàn lâm khoa học Armenia Xô Viết, 1962), tr. 174; E. C. Sarcissian, Chính sách mở rộng của Đế chế Ottoman Empire ở Transcaucasia vào đêm và vào các năm của chiến tranh TG lần thứ 1 (Yerevan: Nhà Xuất bản Viện Hàn lâm Khoa học Armenian SSR, 1962), tr. 365.
  35  Xem ví dụ, Lịch sử về người Armenia, tr. 283.

50. Trong thời kỳ Xô Viết sự nhập cư của một số lượng lớn người Armenia từ nước ngoài và sự trục xuất người Azerbaijan khỏi vùng đất của họ đã diễn ra. Như vậy, theo các nguồn Armenia, khoảng hơn 42.000 người Armenia đã đến Armenia giữa những năm 1921 và 1936. 36 Bước tiếp theo hướng
tới sự thay đổi nhân tạo của  thành phần nhân khẩu học của dân số ở Armenia là một nghị định của J. Stalin vào tháng 10 năm 1945 về người nhập cư Armenia nước ngoài, theo đó Armenia đã tiếp nhận hơn 50.000 người nhập cư vào năm 1946, 35.400 vào năm 1947, và khoảng 10.000 vào năm 1948. 37

51. Dựa trên sự tái định cư người Armenia đến từ nước ngoài, Hội đồng Bộ trưởng của Liên Xô thông qua các quyết định đặc biệt về tái định cư của công nhân nông trại tập thể và các bộ phận khác của dân cư Azerbaijan từ Armenia Xô Viết đến các vùng đất trũng Kur-Araz tại Azerbaijan Xô Viết vào ngày 23 tháng 12 năm 1947 và 10 tháng 3 năm 1948. Theo các quyết định này, trong khoảng thời gian giữa năm 1948 và 1953, hơn 150.000 người Azerbaijan đã bị buộc tái định cư từ vùng đất lịch sử của họ - các khu vực miền núi của Armenia - đến thảo nguyên khô cằn của Mughan và cao nguyên Mil. Đồng thời, vào giữa năm 1961, 200.000 người Armenia đã nhập cư vào Armenia 38 và giữa các năm 1962 và 1973, số người nhập cư gồm 26,100 người. 39

52. Không lâu sau khi khẳng định các yêu sách về Nagorny Karabakh vào cuối năm 1980, 200.000 người Azerbaijani còn lại đã bị buộc phải trục xuất khỏi Armenia.
 


IV. Vùng tự trị Nagorny Karabakh của Azerbaijan Xô Viết
 
53. Như phía Armenia khẳng định, "vào ngày 30 tháng 11 năm 1920, Chính phủ Liên Xô của Azerbaijan đã thông qua một Tuyên bố về sự công nhận của Nagorny Karabakh như là một phần không thể thiếu của Armenia Liên Xô là một hành động chào đón cho chiến thắng của lực lượng Liên Xô trong nước", trong khi "vào ngày 21 tháng 6 năm 1921, Chính phủ Armenia Liên Xô, dựa trên Tuyên bố của Azerbaijan và thỏa thuận với Chính phủ Azerbaijan, đã ban hành một Nghị định công nhận Nagorny Karabakh như là một phần không thể thiếu của Armenia Liên Xô". Phía Armenia tiếp tục tuyên bố rằng "những tài liệu này đã được đăng ký trong nghị quyết của Hội Quốc Liên vào 18 tháng 12 năm 1920, và trong báo cáo hàng năm 1920-1921 của Bộ Ngoại giao Nga" .40 Về vấn đề này, các quan sát sau cần phải được thực hiện.

54. Sau sự chiếm đóng nước Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan bởi Bolshevik Nga vào ngày 28 tháng 4
__________________
  36  Ibid., tr. 336.
  37  Ibid., tr. 366.   
  38  Tài liệu về Chính sách ngoại giao của Xô Viết (Mát-xơ-cơ-va: Nhà xuất bản Văn học Chính trị Quốc gia, 1962), tập 6, ghi chú 33, tr. 611.
  39  Lịch sử dân tộc Armenia, tr. 418.
  40  A/63/781-S/2009/156, phần 8, đoạn 27
năm 1920, ngày 19 tháng 6 năm 1920, S. Orjonikidze, người đứng đầu Cục Cáp-ca-dơ của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Nga (Bolshevik) đã gửi điện tín cho G. Chicherin, Ủy viên Ngoại giao nhân dân Liên bang Nga Xô Viết Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa, nêu rằng sự cai trị của Liên Xô được tuyên bố ở Karabakh và Zangazur và họ "tự coi mình là một phần của Cộng hòa Azerbaijan Xô Viết".41

55. Azerbaijan Xô Viết bao gồm các khu vực sau đây như được mô tả trong tài liệu ngày 05 tháng 8 năm 1920 từ các lưu trữTrung ương của Hồng Quân: "lãnh thổ Azerbaijan bao gồm toàn bộ tỉnh Ganja và tất cả uyezd của Surmali, Nakhchyvan và Sharur-Daralayaz của tỉnh Erivan, cũng như phần phía nam của tỉnh Erivan với các làng của Kamarli, Boyuk-VEDI và Davali và phần phía Đông của Novo Bayazet ".42

56. Liên đoàn Cách mạng Armenia mà sự độc lập của nó do các mối đe dọa ngày càng tăng từ những người Bolshevik, trên thực tế được công nhận bởi Hội Quốc Liên ngày 19 tháng 1 năm 1920,43 tức là 7 ngày sau khi công nhận chính thức Azerbaijan và Gruzia của Hội Quốc Liên, tức là vào ngày 12 tháng Giêng, 44 đã bị thay thế trong thời gian ngắn bằng Armenia "Xô Viết" vào mùa đông năm 1920-1921.

57. Ngày 01 tháng 12 năm 1920, N. Narimanov, Chủ tịch của Ủy viên Liên Xô nhân dân 'của  Cộng hòa Xã jppok Chủ nghĩa Azerbaijan, theo quyết định của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Azerbaijan ngày 30 tháng 11 năm 1920, đã đưa ra tuyên bố trên nhân dịp công bố về sự cai trị của Liên Xô tại Armenia. Trong tuyên bố này, phần phía tây của Zangazur uyezd đã bị Armenia chiếm và "những người nông dân lao động của Nagorny Karabakh được trao đầy đủ quyền tự quyết" .45 Như được thấy, trái với sự hiểu biết của phía Armenia, tuyên bố đó không liên quan gì đến "sự công nhận Nagorny Karabakh như là một phần không thể thiếu của Armenia Xô Viết".

58. Ngày 2 tháng 12 năm 1920, thỏa thuận đã được ký kết giữa Nga và Armenia, theo Điều 3 trong đó Nga công nhận các vùng lãnh thổ sau đây là một phần không tranh chấp của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Armenia Xô Viết: "Tỉnh Erivan [...] một phần tỉnh Kars [... ] tỉnh Zangazur [...] và một phần của Gazakh uyezd [...] và những bộ phận của tỉnh Tiflis, mà thuộc sở hữu của Armenia cho đến
ngày 23 tháng 10 năm 1920”.46
Tài liệu này chứng tỏ rằng cho đến ngày 02 tháng 12 năm 1920, không chỉ Nagorny Karabakh, mà __________________
  41  Lưu trữ quốc gia của các Đảng chính trị và phong trào xã hội của Cộng hòa Azerbaijan, f. 609, t1, f. 21, tr. 100.
  42  Lưu trữ Trung ương của Hồng quân, f. 195, 4, f. 385, tr. 53.
  43 Các giấy tờ liên quan đến quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, Hội nghị Hòa bình Paris, 1919, tập IX (Washington DC: Cơ quan in ấn Chính phủ Mỹ, 1946)., Tr 899 và 901.
  44  Ibid., tr. 904.  
  45  Cộng sản (Baku), 2/9/1920, tr. 1.
  46 Chính sách quốc tế về thời gian mới nhất trong các điều ước, ghi chú và tuyên bố, Phần 3 (từ tăng cường phong tỏa từ nước Nga Xô Viết đến thập kỷ của cuộc Cách mạng tháng Mười). Vấn đề số 1 (Các công tác của Ngoại giao Liên Xô) (Mát-xơ-cơ-va: Công bố Litizdat của Ủy viên nhân dân Ngoại giao, 1928), tl. 41, tr. 75; Cách mạng Tháng Mười vĩ đại và chiến thắng sự cai trị của Liên Xô tại Armenia (Thu thập tài liệu) (Yerevan: Aypetrat, 1957), tl. 295, tr. 441-442.
toàn bộ Karabakh, ngoại trừ một nửa của uyezd Zangazur, không thuộc Armenia. Nó cũng chứng minh rằng các tuyên bố của N. Narimanov vào 01 tháng 12 năm 1920 không có nghĩa là nhượng bộ của Nagorny Karabakh đối với Armenia.

59. Hơn nữa, phía Armenia bóp méo văn bản của nghị định của Armenia Xô Viết ngày 21 tháng 6 năm 1921, coi nó là "một Nghị định công nhận Nagorny Karabakh như là một phần không thể thiếu của  Armenia Xô Viết" .47 Trong thực tế, theo tài liệu này, "trên cơ sở tuyên bố của Ủy ban cách mạng của Azerbaijan Xô Viết [ngày 01 tháng 12 năm 1920] và thỏa thuận giữa chính phủ nước Cộng hòa Xô viết của Armenia và Azerbaijan, Ủy ban cách mạng của Armenia Xô Viết tuyên bố rằng từ ngày này Nagorny Karabakh là một phần không thể tách rời của Cộng hòa Armenia Xô Viết".48 Nói cách khác, nghị định xác nhận rằng cho đến tháng 6 năm 1921 Nagorny Karabakh không thể trở thành được một phần của Armenia.

60. Theo như "thỏa thuận giữa chính phủ nước Cộng hòa Xô viết của Armenia và Azerbaijan", cần phải nhận thấy rằng vào ngày 19 tháng 6 năm 1921, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Chấp hành Trung ương Azerbaijan đã tổ chức cuộc họp và đã thảo luận, không kể những cái khác, "báo cáo của đồng chí Narimanov về chuyến thăm của ông tới Tiflis về vấn đề ngoài biên giới giữa các nước Cộng hòa Xô Viết của Azerbaijan, Gruzia và Armenia". Báo cáo này nêu một cách rõ ràng nhất rằng "Nagorny Karabakh vẫn là một phần không thể tách rời của Azerbaijan Liên Xô với quyền nội tự trị". Sau khi thảo luận, hội nghị đã quyết định "phê duyệt các hoạt động của Ủy ban về việc thành lập đường biên giới bên ngoài giữa Azerbaijan Xô Viết và các nước Cộng hòa Xô Viết láng giềng ở Transcaucasia" .49

61. Vị thế của Armenia cũng mất uy tín vì một số mâu thuẫn khác. Vì vậy, câu hỏi tự nhiên đặt ra là tại sao Armenia Xô Viết công nhận Nagorny Karabakh như là một phần không tách rời của nó chỉ trong tháng 6 năm 1921 nếu Azerbaijan Xô Viết đã bị cáo buộc theo sự đồng ý của mình vào ngày 01 tháng 12 năm 1920.

62. Hơn nữa, một nguồn chính thức của Armenia (thông tin mang tên "các khía cạnh pháp lý đối với quyền tự quyết trong trường hợp của Nagorny Karabakh" lưu hành theo yêu cầu của Phái đoàn thường trực của Armenia tại Văn phòng Liên Hiệp Quốc tại Geneva) ghi rõ niên đại của các sự kiện tại thời điểm đó một cách khác nhau và do đó nhân đôi lại sự tò mò về vị thế của Armenia. Như vậy, tài liệu quy định rằng "[t]heo tuyên ngôn này [ngày 30 tháng 11], các biên giới trước đây được chấp nhận giữa Armenia và Azerbaijan đã bị bãi bỏ và Nagorny Karabakh, Zangezour và Nakhichevan đã được công nhận là một phần thống nhất của Armenia Xô Viết”. Tài liệu cũng ghi thêm là “Revcom Azerbaijan trong ‘Tuyên bố về sự thành lập quyền lực Xô Viết tại Armenia’ ngày 2 tháng 9 năm 1920 đã công nhận quyền tự quyết của Nagorny Karabakh”, và  “[v]ào ngày 12 tháng 6 năm 1921, Ủy ban
__________________
  47  A/63/781-S/2009/156, phần. 8, đoạn. 28.
  48  Khorurdain Ayastan, 19/6/1921, phần. 1.
  49  Lưu trữ quốc gia của Cộng hòa Azerbaijan, f. 379, inv. 1, f. 7480, phần 10.

Quốc gia của Azerbaijan Xô Viết đã thông qua tuyên bố nói rằng Nagorny Karabakh là một phần thống nhất của Armenia Xô Viết”. Theo tài liệu này, “[n]gày 19 tháng 6 năm 1921, Alexander Miasnikyan, Chủ tịch Hội đồng Ủy viên của Armenia đã ban hành nghị định sau: ‘Trên cơ sở tuyên bố của Ủy ban Cách mạng của Công hòa Azerbaijan Xô Viết và thỏa thuận giữa các nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Armenia và Azerbaijan, tuyên bố rằng kể từ bây giờ Nagorny Karabakh là một phần thống nhất của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Armenia’”.50

63. Ấn tượng từ cái nhìn tổng quan theo niên đại này là Azerbaijan đã bền bỉ một cách đáng ngạc nhiên về mong muốn có mục đích của mình để thoát khỏi lãnh thổ của mình và cố gắng thuyết phục Armenia nhận món quà này. Sự vô lý của đề xuất như vậy một cách hợp lý xuất phát từ những thông tin nói trên được cung cấp bởi bên Armenia, mà theo đó Azerbaijan bị cáo buộc tuyên bố không ít hơn ba lần, tức là vào ngày 30 tháng 11 năm 1920, 02 tháng 12 năm 1920 và ngày 12 tháng 6 năm 1921, công nhận Nagorny Karabakh như một một phần không tách rời của Armenia, trong khi Armenia đã đồng ý với điều đó chỉ trong tháng 6 năm 1921. Nhân tiện cũng đáng lưu ý rằng hai văn bản nêu trên lưu hành bởi Armenia tại Hội Quốc Liên mâu thuẫn với nhau về ngày đồng ý có mục đích này (ngày 19 tháng 6 năm 1920 trong tài liệu E/CN.4/2005/G/23 và ngày 21 tháng 6 năm 1920 trong tài liệu A/63/781-S/2009/156).

64. Hơn nữa, theo quan điểm của Armenia, "[s] au sự sụp đổ của Đế chế [Nga], Nagorny Karabakh (với 95 % dân Armenia) đã từ chối dưới thẩm quyền của nước Cộng hòa Dân chủ Azerbaijan ", 51" [t] ừ 1918-1920 ... sở hữu tất cả các thuộc tính cần thiết của một nhà nước, bao gồm cả quân đội và chính quyền hợp pháp "và là" một thực thể độc lập theo pháp luật " 52 hay" đơn vị chính trị độc lập ", 53 trong khi" [v] ào ngày 23 tháng 4 năm 1920, Hội đồng thứ IX của người Armenia Karabakh đã tuyên bố Nagorny Karabakh là một phần không thể tách rời của nước Cộng hòa Armenia ". 54 Đồng thời, theo phía Armenia, sau tuyên bố bị cáo buộc thực hiện bởi Azerbaijan vào ngày 30 tháng 11 năm 1920, "biên giới trước đây được chấp nhận giữa Armenia và Azerbaijan đã được bãi bỏ và Nagorny Karabakh, Zangezour và Nakhchivan đã được công nhận như là một phần không thể thiếu của Armenia Xô Viết". 55 Nói cách khác, theo mâu thuẫn với lập luận của phía Armenia, một mặt, Nagorny Karabakh được coi là "một thực thể độc lập hợp pháp" hoặc "một đơn vị chính trị độc lập" 1918-1920 và có khả năng là một phần của Armenia từ ngày 23 tháng 4 năm 1920, trong khi mặt khác, đã có "biên giới trước đây được chấp nhận giữa Armenia và Azerbaijan" và Nagorny Karabakh, Zangazur và Nakhchyvan cấu thành một phần không thể thiếu của Azerbaijan.

65. Đủ tự nhiên rằng các thông tin là sai lệch sự thật, đồng thời, Armenia sẽ gặp phải một bế tắc.
__________________
  50  E/CN.4/2005/G/23, pp. 3-4.
  51  A/63/781-S/2009/156, p. 7, para. 21.
  52  Ibid., p. 7, para. 23.
  53  E/CN.4/2005/G/23, p. 2.
  54  A/63/781-S/2009/156, p. 7, para. 24.  
Nếu không, nó sẽ đưa ra các lập luận đáng tin cậy, đặc biệt theo như tuyên bố cáo buộc Azerbaijan có liên quan. Phía Armenia đồng thời khẳng định rằng "[b] ỏ qua thực tế, vào ngày 05 tháng 7 Cục Cáp-ca-dơ của Đảng Cộng sản hoạt động dưới áp lực cá nhân của Joseph Stalin, đã sửa đổi quyết định trong ngày trước đó của mình và chịu để Karabakh nằm dưới sự cai trị của Azerbaijan và tạo ra một tỉnh tự trị (khu vực) Nagorny Karabakh, trong phạm vi lãnh thổ của Azerbaijan Xô Viết".56 Phía Armenia cũng thừa nhận rằng" [v] ào tháng 7 năm 1921, Azerbaijan Xô Viết nhất quyết cho rằng vấn đề Nagorny Karabakh phải được xem xét tại phiên họp toàn thể của Cục Cáp-ca-dơ của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Nga-Bolshevics (RCP-B) ". 57 Câu hỏi đặt ra là tại sao cần xem xét vấn đề Nagorny Karabakh vào ngày 04 tháng 7 năm 1921, sửa đổi quyết định của ngày hôm trước vào 5 tháng 7 năm 1921 và "chịu để Karabakh dưới sự cai trị của Azerbaijan" nếu Nagorny Karabakh, như bên Armenia khẳng định, đã là một phần của Armenia. Phía Armenia im lặng về việc nó có thể xảy ra như thế nào trong bối cảnh của ba tuyên bố có mục đích của Azerbaijan, đặc biệt là chưa đầy một tháng sau ngày 12 tháng 6 năm 1921.

66. Trong thực tế, lãnh đạo của Azerbaijan tại thời điểm đó đã kiên quyết trong việc giữ Nagorny Karabakh bên trong Azerbaijan. Tất cả tuyên bố không để lại bất kỳ nghi ngờ rằng có thể có sự thỏa thuận giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết của Azerbaijan và Armenia khi sát nhập Nagorny Karabakh vào Armenia. Mặt khác, mục đích của những tuyên bố về Nagorny Karabakh công bố tại Armenia là bình định các cuộc nổi loạn của Liên đoàn Cách mạng, với việc thanh lý tại Zangazur ngày 15 tháng 7 năm 1921, chính quyền "Liên Xô" một lần nữa được thành lập ở Armenia.

67. Đó cũng vì một mục đích bình định hiệu quả hơn của Liên đoàn Cách mạng rằng những người Bolshevik đã chọn phương pháp của những người theo chủ nghĩa dân tộc Armenia và các vấn đề Nagorny Karabakh đã được đưa ra ở Cục Cáp-ca-dơ của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Nga (Bolsheviks) vào ngày 04 tháng 7 năm 1921 và 4 mục đã được đưa ra để thảo luận:
 (a) Nhằm giữ Karabakh là một phần của Azerbaijan;
 (b) Tổ chức bỏ phiếu với sự tham gia của toàn bộ dân cư Hồi giáo và Armenia trên toàn lãnh thổ Karabakh;
 (c) Nhằm sát nhập vùng miền núi Karabakh vào Armenia;  
 (d) Nhằm tổ chức bỏ phiếu chỉ tại Nagorny Karabakh, nghĩa là trong số những người Armenia.

68. Cục Cáp-ca-dơ đã quyết định rằng "Nagorny Karabakh sẽ được bao gồm trong Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Armenia Xô Viết" và "cuộc trưng cầu dân ý chỉ được tổ chức tại Nagorny Karabakh, tức là trong số những người Armenia". Tuy nhiên, theo quyết định tương tự, "[t] ừ khi vấn đề Karabakh làm gia tăng các mâu thuẫn nghiêm trọng, Cục Cáp-ca-dơ của CCRCP cho rằng cần phải đệ trình xin __________________
  55  E/CN.4/2005/G/23, phần 3.
  56  A/63/781-S/2009/156, phần 8, đoạn 30.
  57  E/CN.4/2005/G/23, phần 4.
    
quyết định cuối cùng của CCRCP”.58  

69. Ngày hôm sau, vào ngày 5 tháng 7 năm 1921, Cục Cáp-ca-dơ đã thảo luận “cân nhắc quyết định đưa ra đối với Karabakh tại phiên họp toàn thể lần trước” và đã quyết định giữ Nagorny Karabakh bên trong Azerbaijan Xô Viết. Phần trích dẫn sau chứng minh rằng Cục đã quyết định để Nagorny Karabakh lại bên trong Azerbaijan Xô Viết, không “chuyển giao” hoặc “chịu theo” sự cai trị của Azerbaijan, như phía Armenia tuyên bố:59  “Xét về sự cần thiết của hòa bình quốc gia giữa những người Hồi giáo và Armenia, mối quan hệ kinh tế giữa vùng hạ và thượng Karabakh và mối quan hệ vĩnh viễn của vùng thượng Karabakh với Azerbaijan, Nagorny Karabakh sẽ được giữ lại bên trong Azerbaijan Xô Viết và sự tự chủ rộng lớn sẽ được ban cho Nagorny Karabakh với thành phố Shusha là trung tâm hành chính”.60  

70. Về vấn đề này, cần chú ý đến vị thế đầy mâu thuẫn của Chính phủ Armenia về tình trạng của Cục Cáp-ca-dơ. Như vậy, theo tài liệu lưu hành theo yêu cầu của Đại diện thường trực của Armenia tại Liên Hiệp Quốc vào ngày 24 tháng 3 năm 2009, "quyết định [bởi Cục Cáp-ca-dơ] không thể là cơ sở pháp lý cho việc xác định tình trạng và các biên giới của Nagorny Karabakh "trong chừng mực nó đã được thông qua bởi một nước thứ ba, tức là Đảng Bolshevik Nga, mà không có quyền lực pháp lý hoặc quyền tài phán".
61 Cùng với sự hiểu biết tương tự, trong báo cáo ban đầu của Armenia theo Công ước Quốc tế về Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, Cục Cáp-ca-dơ được gọi là "một cơ quan đảng không theo hiến pháp và trái phép", mà "không có quyền tham gia vào các hoạt động xây dựng Nhà nước của một Nhà nước khác ", trong khi quyết định trong ngày 05 tháng 7 được coi là" một hành động can thiệp vào công việc nội bộ của một nước Cộng hòa Xô Viết có chủ quyền khác".
62 Ngược lại, theo tài tiệu được lưu hành theo yêu cầu của Phái đoàn thường trực của Armenia tại Văn phòng Liên Hợp Quốc tại Geneva ngày 22 tháng 3 năm 2005, Cục Cáp-ca-dơ được xem là một cơ quan hợp pháp với sự cho phép quyết định về các vấn đề lãnh thổ ảnh hưởng đến Armenia và Azerbaijan tại thời gian đó. Bởi vậy, Armenia tin tưởng rằng “[v]ề mặt pháp lý, chỉ có […] quyết định [của Cục Cáp-ca-dơ] ngày 4 tháng 7 năm 1921 [nhằm] ‘sát nhập Nagorny Karabakh vào Armenia Xô Viết và để thực hiện toàn dân đầu phiếu tại riêng Nagorny Karabakh’ là tài liệu pháp lý cuối cùng về
__________________
  58  Trích từ Nghị định thư của phiên họp toàn thể của Cục Cáp-ca-dơ của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Nga (Bolsheviks) ngày 4 tháng 7 năm 1921. Để xem văn bản, tham khảo Lịch sử hình thành của Vùng tự trị Nagorny Karabakh của Azerbaijan Xô Viết. 1918-1925: Tài liệu, trang 90-91.
  59  A/63/781-S/2009/156, trang 8-9, đoạn 30 và 34.
  60  Trích từ Nghị định thư của phiên họp toàn thể của Cục Cáp-ca-dơ của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Nga (Bolsheviks) ngày 5 tháng 7 năm 1921. Để xem văn bản, tham khảo Lịch sử hình thành của Vùng tự trị Nagorny Karabakh của Azerbaijan Xô Viết. 1918-1925: Tài liệu, trang 92.
  61  A/63/781-S/2009/156, phần 8, đoạn 30.
  62  E/1990/5/Add.36, phần 3, đoạn 2.  
tình trạng của Nagorny Karabakh nhằm được thông qua một cách hợp pháp mà không có sự vi phạm về thủ tục”.63

71. Trong thực tế, quyết định ngày 5 tháng 7 năm 1921 là phán quyết cuối cùng và ràng buộc mà sẽ được khẳng định nhiều lần bởi lãnh đạo của Liên Xô và được công nhận bởi Armenia trong những năm qua. Mặc dù thực tế rằng Nagorny Karabakh được giữ lại bên trong Azerbaijan, nó đã được gắn trạng thái tự chủ, mặc dù hơn một nửa triệu cộng đồng Azerbaijan cư trú tại Armenia tại thời điểm đó đã bị từ chối đặc ân tương tự.

72. Ngày 7 tháng 7 năm 1923, Ban Chấp hành Trung ương của Azerbaijan Xô Viết đã ban hành một sắc lệnh “về Sự hình thành của khu vực tự trị Nagorny Karabakh”.64 Thị trấn Khankandi đã được xác định là trung tâm hành chính của vùng tự trị. Tháng 9 năm 1923, tên của thị trấn đã được đổi thành Stepanakert theo tên của Stepan Shaumian, một lãnh đạo liên đoàn cách mạng “bolshevik”.  

73. Các biên giới hành chính của NKAO đã được xác định theo 1 cách để đảm bảo rằng dân cư Armenia tạo thành phần đông. Theo điều tra dân số ngày 12 tháng 1 năm 1989, dân số của khu vực tự trị vào khoảng 189.000 người persons; trong đó: khoảng 139.000 người Armenia — 73,5%, khoảng 48.000 người Azerbaijan — 25,3% và khoảng 2.000 đại diện của các dân tộc khác — 1,2%.65  

74. Các cáo buộc về phân biệt đối xử với người Armenia của Nagorny Karabakh 66 không chịu sự điều tra. Trong thực tế, NKAO sở hữu toàn bộ các nhân tố cần thiết của chính phủ tự chủ.

75. Tình trạng của Nagorny Karabakh với tư cách một khu vực tự trị bên trong Azerbaijan Xô Viết đã được quy định trong Hiến pháp Xô Viết năm 1936 và 1977.67 Theo các Hiến pháp của Xô Viết và Azerbaijan Xô Viết, tình trạng hợp pháp của NKAO đã được quy định bởi Luật “Về khu vực tự trị Nagorny Karabakh”, mà được thông qua bởi Toàn án Tối cao Xô Viết của Azerbaijan Xô Viết ngày 16 tháng 6 năm 1981.68 Theo Hiến pháp của Xô Viết, NKAO được đại diện bởi năm đại biểu Hội Đồng Dân tộc của Toàn án Tối cao Xô Viết của Azerbaijan Xô Viết. Nó được đại diện bởi 12 đại biểu của Tòa án Tối cao Xô Viết của Azerbaijan Xô Viết.

76. Xô Viết của các Đại biểu Nhân dân của NKAO — chính quyền ở vùng — có một loạt quyền hạn. Nó đã quyết định tất cả các vấn đề địa phương dựa trên lợi ích của các công dân sống ở vùng đó và liên quan đến các đặc điểm quốc gia và cụ thể khác. Người Armenia từng làm việc trong các cơ quan
chính phủ, hành chính và tư pháp và Văn phòng Công tố viên cũng như trong lĩnh vực giáo dục phản __________________
  63  E/CN.4/2005/G/23, p. 4.
  64  Để xem văn bản, tham khảo Lịch sử hình thành của vùng tự trị của Azerbaijan Xô Viết. 1918-1925: Tài liệu, tr. 152-153.
  65  Cơ cấu quốc gia của Dân số Xo Viết. Theo các nghiên cứu của điều tra dân số All-Union 1989 (Moscow: Tài chính và Thống kê, 1991), tr. 120.
  66 A/63/781-S/2009/156, phần 9, đoạn 32-33.
  67  Hiến pháp Liên Xô (Moscow, 1936), phần 14, bài viết 24; Hiến pháp Liên Xô (Moscow, 1977),  trang 13-14, bài 87.
  68  Luật của Azerbaijan Xô Viết “Về khu vực tự trị Nagorny Karabakh”, 16/6/1981 (Baku: Azerneshr, 1987), phần 3, bài 3.
 
ảnh các yêu cầu của người dân Armenia ở vùng đó. Đài phát thanh, truyền hình và báo chí địa phương bằng tiếng Armenia đã được NKAO bảo lãnh toàn bộ.

77. Là một đơn vị lãnh thổ quốc gia, NKAO hưởng quyền tự quyết hành chính, và, theo đó, có một số quyền mà trong thực tế, đảm bảo rằng các nhu cầu cụ thể của người dân được đáp ứng. Trong thực tế, số liệu thống kê cho thấy rằng NKAO nói chung đã phát triển nhanh hơn so với Azerbaijan. Sự tồn tại và phát triển của NKAO trong Azerbaijan khẳng định rằng các hình thức tự chủ đã diễn ra hoàn toàn phản ánh đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa và quốc gia cụ thể của dân số và đời sống trong khu vực tự trị.

78. Trong bối cảnh này, Armenia không nên bỏ qua thực tế rằng, không giống như nó đã từng thanh trừng lãnh thổ gồm toàn bộ người phi Armenia và trở thành một nhà nước đơn dân tộc duy nhất, Azerbaijan đã bảo tồn sự đa dạng sắc tộc của mình cho đến ngày nay. Thay vì cáo buộc Azerbaijan "phân biệt đối xử đối với Nagorny Karabakh", Chính phủ Armenia cần thực hiện một số mức độ tự đánh giá vấn đề quyền con người. Do đó, các cơ quan của Liên Hợp Quốc liên quan đã nhiều lần bày tỏ quan ngại của họ về tinh thần không thể khoan dung hiện tại của Armenia và các chính sách và thực tiễn phân biệt đối xử mà đất nước này theo đuổi chống lại dân tộc và tôn giáo thiểu số, người tị nạn, phụ nữ và trẻ em.69  

79. Về vấn đề này, cần tham khảo các khuyến nghị Bolzano / Bozen về Dân tộc thiểu số trong quan hệ liên quốc gia (tháng 6 năm 2008), mà chứng tỏ rằng "[N] ếu các Quốc gia cho thấy sự quan tâm lớn về dân tộc thiểu số ở nước ngoài hơn là ở trong nước hoặc tích cực hỗ trợ cho một dân tộc thiểu số đặc biệt trong một đất nước đồng thời nơi khác lại thờ ơ với nó thì các động cơ và sự tín nhiệm trong các hành động của họ có thể bị đặt câu hỏi".

80. Như vậy, bằng chứng minh họa về định kiến chủng tộc phổ biến trong chính sách và thực tiễn của Armenia là sự rõ ràng về "tính không tương thích dân tộc" giữa Armenia và Azerbaijan. Cụm từ này đã được sử dụng lần đầu tiên trong một bài phát biểu tại Học viện Ngoại giao ở Mát-xơ-cơ-va năm 2003 của Tổng thống Armenia Robert Kocharian.
70. Các hành vi phân biệt đối xử của Armenia đối với người Azerbaijan, đặc biệt là tuyên bố nói trên của Tổng thống Kocharian, đã gây ra phẫn nộ trong cộng đồng quốc tế. Như vậy, sau đó Tổng thư ký của Hội đồng châu Âu Walter Schwimmer nói "bình luận của Kocharian là tương đương với sự khiên chiến" và biểu hiện của "hiếu chiến và thù địch", trong khi đó Chủ tịch của Hội đồng Nghị viện Hội đồng Châu Âu Peter Schieder nói rằng "từ khi thành lập, Hội đồng châu Âu chưa bao giờ nghe đến cụm từ"tính không tương thích dân tộc".71  
 __________________
  69  Xem ví dụ, A/57/18, đoạn 277, 278, 280, 282 và 283; CRC/C/15/Add.119, đoạn 24, 32, 46 và
48; CCPR/C/79/Add.100, đoạn 14, 15, 16 và 17; và E/C.12/1/Add.39, đoạn 10.
  70  Bài báo của tác giả Artur Terian đăng ngày 16/01/ 2003, http://www.armenialiberty.org/armeniareport/report/en/2003/01/4B1EBB47-69C0-40AF-83DB-24E810DA88E4.aspSeeRFE/RL.
  71  Hội đồng Châu Âu phê phán Tổng thống Armenia, RFE/RL Newsline, 17/01/2003,  http://www.rferl.org/content/article/1142847.html.  
 V. Sự trỗi dậy của giai đoạn mâu thuẫn tạm thời
 
81. Trong khi trình bày giải thích riêng của mình về trình tự sự kiện tại thời điểm đó, phía Armenia thường bỏ qua trong im lặng một số khía cạnh thực tế quan trọng liên quan đến tình hình thực tế ở vùng. Minh chứng khác về "lãng quên" là bản ghi nhớ tựa đề "Nagorny Karabakh: các cuộc đàm phán hòa bình và chính sách quân sự của Azerbaijan" lưu hành theo yêu cầu của Đại diện thường trực Armenia tại Liên Hiệp Quốc theo tài liệu A / 63/781-S / 2009/156.

82. Như vậy, giai đoạn hiện tại của cuộc xung đột Armenia-Azerbaijan đã bắt đầu vào cuối năm 198772 với các cuộc tấn công vào người Azerbaijan tại Khankandi (trong thời Xô viết - Stepanakert) và Armenia gây nên một dòng người tị nạn Azerbaijan và người vô gia cư trong nước.

83. Ngày 20 tháng 2 năm 1988, các đại diện của cộng đồng người Armenia tại phiên họp của đại biểu nhân dân Xô Viết của NKAO đã thông qua một nghị quyết nỗ lực chuyển giao NKAO từ Azerbaijan Xô Viết sang Armenia Xô Viết.73  

84. Ngày 22 tháng 2 năm 1988, gần khu định cư của Asgaran trên đường cao tốc Khankandi-Aghdam, người Armenia đã nổ súng vào một cuộc biểu tình hòa binh của người Azerbaijan phản đối quyết định nói trên của đại biểu nhân dân Xô viết của NKAO. Có hai thanh niên Azerbaijan đã mất mạng và trở thành những nạn nhân đầu tiên của cuộc xung đột.

85. Ngày 26-28 tháng 2 năm 1988, 26 người Armenia và Azerbaijan đã bị giết chết do sự rối loạn tại Sumgait. Đáng chú ý là một trong những nhân vật hàng đầu của những sự kiện này là Edward Grigorian, một người Armenia gốc Sumgait, người đã trực tiếp tham gia vào các vụ giết người và bạo lực đối với người Armenia và bạo lực ở các vùng lân cận Armenia. Theo quyết định của Cơ quan hình sự của Tòa án tối cao của Azerbaijan Xô Viết ngày 22 tháng 12 năm 1989, Grigorian đã bị kết án 12 năm tù giam. Tòa án phát hiện Grigorian là một trong những người tổ chức các cuộc bạo động và thảm sát. Lời khai của các nhân chứng và nạn nhân cho thấy hắn có một danh sách các nơi ở của người Armenia và cùng với ba người Armenia khác, kêu gọi trả thù chống lại người Armenia, trong đó hắn tham gia với tư cách cá nhân. Các nạn nhân của hắn (toàn bộ là người Armenia) đã xác định Grigorian là một trong những kẻ cầm đầu và là nhân vật chính trong vụ bạo lực. Trong thực tế, các sự kiện ở Sumgait là một phương tiện cần thiết đối với lãnh đạo Armenia nhằm công bố chiến dịch tăng cường chống người Azerbaijan và biện minh cho những hành động hung hăng tiếp theo chống lại Azerbaijan đã được lập kế hoạch và chuẩn bị trước. Các sự kiện tại cũng hầu như không được kiểm soát nếu thiếu sự hỗ trợ quyền lực bên ngoài. Như tạp chí The Times đã viết, lãnh đạo KGB đã
__________________
  72  Theo Thomas de Waal, sớm nhất là trong tháng 2 năm 1986 một nhà hoạt động của phong trào ly khai, Muradian, đến Mát-xơ-cơ-va từ Yerevan "với một dự thảo thư mà ông thuyết phục chín ủy viên có uy tín của Đảng Cộng sản Armenia Xô Viết và các nhà khoa học ký" nhằm mục đích tách Nagorny Karabakh ra khỏi Azerbaijan và sáp nhập vào Armenia, Black Garden:. Armenia và Azerbaijan thông qua Hòa bình và Chiến tranh (New York University Press, New York và London, 2003), tr 17-20.
  73  A/63/781-S/2009/156, tr 9-10, đoạn 36.
cố gắng “làm suy yếu chính quyền và cơ sở của Kremlin” và “đã tổ chức các hành động khiêu khích, với lý do là sự bất mãn ở địa phương, thành phố trên toàn Liên Xô bao gồm Sumgait và Baku ...”.74  

86. Sau khi kiến nghị ngày 20 tháng 2 năm 1988 nói trên, một số ltuyên bố và quyết định khác đã được đưa ra bởi cả Armenia Xô Viết và người Armenia địa phương của NKAO với quan điểm đảm bảo sự ly khai đơn phương của Nagorny Karabakh ra khỏi Azerbaijan.75  

87. Quan điểm của Armenia là “sau khi Liên Xô tan ra, trên lãnh thổ của Arzerbaijan Xô Viết cũ đã hình thành hai Nhà nước: Cộng hòa Azerbaijan và Cộng hòa Nagorny Karabakh” (sau đây gọi tắt là “NKR”) và rằng “[s]ự thiết lập của cả hai Nhà nước có cơ sở pháp lý tương tự”, đồng thời quá trình mà thông qua đó thực thể thứ hai trở nên “độc lập” đã phản ảnh quyền tự quyết.76  

88. Tuy nhiên, hướng tiếp cận này về cơ bản là sai. Vào đêm độc lập của Azerbaijan, sự bất hợp pháp của hệ thống pháp lý Xô Viết về cố gắng đơn phương ly khai Nagorny Karabakh mà không có sự đồng ý của Azerbaijan đã được xác nhận theo cấp độ hiến pháp cao nhất. Azerbaijan đã không đồng ý khiến định nghĩa về lãnh thổ của Azerbaijan khi nó tiến đến độc lập và rõ ràng trong luật áp dụng đã bao gồm lãnh thổ của Nagorny Karabakh. Azerbaijan được quyền độc lập bên trong các biên giới lãnh thổ mà nó đã được công nhận là có giống như Azerbaijan Xô Viết bên trong Liên Xô.  

89. Sự khẳng định về ly khai khỏi Azerbaijan độc lập trên cơ sở sự tự quyết mâu thuẫn với định mức về toàn vẹn lãnh thổ đã được công nhận phổ nhiến, như đã thảo luận trong báo cáo "Trên định mức cơ bản về toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia và quyền tự quyết theo các tuyên bố của những người theo chủ nghĩa xét lại Armenia lưu hành theo yêu cầu của Azerbaijan như là một tài liệu của Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an.77

90. Không những Azerbaijan không đồng ý với sự ly khai này (thực sự nó đã liên tục bị phản đối), nhưng không có nhà nước nào trong cộng đồng quốc tế công nhận "NKR" là độc lập, thậm chí cả Armenia, mặc dù Armenia cung cấp nguồn kinh tế, chính trị và quân sự không thể thiếu mà không nếu không có chúng thì thực thể đó không thể tồn tại.

91. Sau điều nói trên rằng tuyên bố của Armenia về sự "độc lập" của Nagorny Karabakh là trái với và không đủ lập trường trong luật pháp quốc tế.


VI. Sự gia tăng mâu thuẫn, diễn biến và hậu quả của nó

92. Cuối 1991 và đầu 1992, mâu thuẫn chuyển sang giai đoạn quân sự. Lợi dụng sự bất ổn bởi việc
Liên Xô tan ra và các gây hấn nội bộ tại Azerbaijan, Armenia bắt đầu hoạt động chiến đấu hỗ trợ __________________
   74  Vladimir Kryuchkov. Nhà cộng sản Xô Viết – người trở thành lãnh đạo của KGB và thất bại trong âm mưu lật đổ Mikhail Gorbachev, Times Online, 30/11/2007, http://www.timesonline.co.uk/tol/comment/obituaries/article2970324.ece.
  75 Để biết thêm thông tin, tham khảo A/63/664-S/2008/823, phần 45, đoạn 152.
  76  A/63/781-S/2009/156, phần 11, đoạn 43.
  77  A/63/664-S/2008/823.  
quân sự từ bên ngoài tại Nagorny Karabakh.

93. Cuộc tấn công vũ trang đầu tiên của Cộng hòa Armenia đối với Cộng hòa Azerbaijan sau độc lập của hai nước Cộng hòa - một cuộc tấn công, trong đó các tổ chức quân sự và xe bọc thép hoạt động chống lại các mục tiêu Azerbaijan xảy ra vào tháng 2 năm 1992 khi thành phố Khojaly tại Cộng hòa Azerbaijan đã nổi tiếng là bị tàn phá và dân số của họ phải chịu một vụ thảm sát chưa từng có. Bi kịch đẫm máu mà được biết là diệt chủng Khojaly này liên quan đến việc tiêu diệt hoặc bắt giữ hàng ngàn người Azerbaijan; thị trấn đã bị san phẳng. Trong các đêm từ 25-26 tháng 2 năm 1992, lực lượng vũ trang Armenia với sự giúp đỡ của các vệ sĩ trung đoàn bộ binh số 366 của Liên Xô trước đây mà nhân viên trong số đó chủ yếu là người Armenia đã thực hiện việc thâu tóm Khojaly. Những cư dân của Khojaly còn lại trong thị trấn trước khi đêm kinh hoàn đã cố gắng rời khỏi nhà của họ sau khi bắt đầu các cuộc tấn công với hy vọng tìm đường đến nơi cư trú gần nhất của những người Azerbaijan. Nhưng kế hoạch này đã thất bại. Kẻ xâm lược đã phá hủy Khojaly và đặc biệt với sự tàn bạo, đã thực hiện cuộc tàn sát dân cư. Kết quả là 613 dân thường thiệt mạng, trong đó có 106 phụ nữ, 63 trẻ em và 70 người già. Khoảng 1.000 người bị thương và 1.275 người bị bắt cóc. Cho đến ngày nay, 150 người từ Khojaly vẫn còn bị mất tích.

94. Khi tin tức về các hành động tàn bạo nổi lên, mức độ tàn bạo đã được tiết lộ: sự tàn bạo của quân đội Armenia  bao gồm lột da đầu, chặt đầu, đâm lưỡi lê vào bụng phụ nữ mang thai và cắt các bộ phận cơ thể. Ngay cả trẻ em cũng không được tha. Các dữ kiện xác nhận rằng việc cố ý sát hại người dân thị trấn Khojaly vào ngày 25-26 tháng 2 năm 1992 được chỉ định để hủy diệt hàng loạt chỉ vì họ là người Azerbaijan. Thị trấn Khojaly đã được lựa chọn là sân khấu để tiếp tục chiếm đóng và thanh lọc sắc tộc của vùng lãnh thổ Azerbaijan, tấn công khủng bố vào trái tim của người dân và tạo ra hoảng loạn và sợ hãi trước vụ thảm sát kinh hoàng.

95. Tháng 5 năm 1992, Shusha, trung tâm hành chính đông đúc của Azerbaijan nằm trong Nagorny Karabakh, và Lachyn, huyện nằm giữa Armenia và Nagorny Karabakh đã bị chiếm đóng. Năm 1993, lực lượng vũ trang của Armenia đã thâu tóm được 6 huyện khác của Azerbaijan xung quanh khu vực Nagorny Karabakh: Kalbajar (4/1993), Aghdam (7/1993), Jabrayil (8/1993), Gubadly (8/1993), Fuzuli (8/1993) và (10/1993).

96. Sau khi khẳng định mở từ Armenia vào cuối năm 1980 về chủ quyền lãnh thổ tại Azerbaijan và sự ra đời của các hoạt động vũ trang trong khu vực Nagorny Karabakh của Cộng hòa Azerbaijan, các tổ chức khủng bố nổi tiếng như quân đội Giải phóng bí mật của Armenia (ASALA ), Tổng tư lệnh về Diệt chủng Armenia và Quân đội Cách mạng Armenia đã chuyển trung tâm các hoạt động của họ từ các nước Trung Đông, Tây Âu và Bắc Mỹ vào lãnh thổ của Liên Xô cũ.

97. Cuối cùng, do các hành động khủng bố chống lại Azerbaijan thực hiện kể từ cuối những năm 1980 bởi cơ quan mật vụ Armenia và một số tổ chức Armenia kết nối chặt chẽ với nó, bao gồm cả hành vi phạm tội đối với giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, vận tải hàng không và mặt đất, hơn 2.000 người dân Azerbaijan đã thiệt mạng, đa số là phụ nữ, người già và trẻ em.78

98. Ngoài ra, có các số liệu chưa thể lý giải về việc Azerbaijan tích cực sử dụng lính đánh thuê để tấn công Azerbaijan.79

99. Tóm lại, các cuộc xung đột vũ trang đang diễn ra trong và xung quanh các khu vực Nagorny Karabakh của Cộng hòa Azerbaijan đã dẫn đến sự chiếm đóng của gần một phần năm lãnh thổ Azerbaijan và chiếm 1/8 số người di trú hay tị nạn, 20.000 người đã thiệt mạng, 50.000 người bị thương hoặc trở thành thương binh, khoảng 5.000 công dân Azerbaijan vẫn còn mất tích. Cần phải đặc biệt nhấn mạnh rằng những người tị nạn Azerbaijan và người vô gia cư đã buộc phải chạy trốn vì Armenia và các lực lượng quân sự của nó có mục tiêu thanh trừng sắc tộc rõ ràng và tạo ra một nền văn hóa đơn dân tộc ở đó.

100. Vào ngày 12 tháng 5 năm 1994, sự ngừng bắn đã được thiết lập. Tuy nhiên, Armenia vẫn tiếp tục vi phạm sự đình chiến. Kể từ mùa hè năm 2003, có sự gia tăng mạnh về vi phạm lệnh ngừng bắn của phía Armenian. Ngoài việc pháo kích và giết hại lính Azerbaijani, Armenia cũng tấn công các công dân cư trú ở các lãnh thổ lân cận.

101. Sự gây hấn dành cho Cộng hòa Azerbaijan đã tàn phá nghiêm trọng kinh tế xã hội của đất nước. Tại các lãnh thổ bị chiếm đóng, 6 thành phố, 12 làng kiểu thị trấn, 830 khu định cư và hàng trăm bệnh viện và cơ sở y tế đã bị đốt hoặc bị phá hủy. Do sự gây hấn này, hàng trăm nghìn ngôi nhà và căn hộ của cộng động và các bệnh viện đã bị tàn phá. Hàng trăm thư viện đã bị cướp bóc và hàng triệu cuốn sách và các kịch bản có giá trị đã bị đốt cháy hoặc phá hỏng. Một số nhà hát quốc gia, hàng trăm câu lạc bộ và nhiều trường âm nhạc đã bị tàn phá. Nhiều trăm nhà máy sản xuất và nông nghiệp đã bị cướp đoạt. Hệ thống dẫn nước dài hàng trăm cây số đã hoàn toàn bị phá hủy. Vài trăm nghìn con cừu và vài nghìn đàn gia súc đã bị lùa ra khỏi các lãnh thổ bị chiếm đóng đến Armenia. Khoảng 70% đồng cỏ mùa hè của Azerbaijan vẫn còn ở vùng chiếm đóng.

102. Cơ sở hạ tầng của vùng bao gồm hàng trăm cây cầu, hàng trăm km đường xá và hàng nghìn km đường ống nước cũng như hàng nghìn km đường ống dẫn khí và nhiều trạm phân phối khí đã bị tàn phá.

103. Chiến tranh chống lại người Azerbaijan cũng gây ra các hậu quả nghiêm trọng đối với di sản văn hóa cả ở vùng lãnh thổ bị chiếm đóng và cả ở Armenia80 .
__________________
  78  Để biết thêm thông tin, xem Thông tin cung cấp bởi Bộ Ngoại giao Azerbaijan về việc tổ chức và thực hiện các hoạt động khủng bố của Armenia đối với Azerbaijan, kèm theo thư ngày 13/11/1995 từ Đại diện thường trực của Azerbaijan tại Liên Hợp Quốc gửi cho tổng thư ký, A/C.6/50/4, 15/11/1995; Thông tin cung cấp bởi Bộ Ngoại giao Azerbaijan về các biện pháp loại trừ khủng bố quốc tế, kèm theo công hàm ngày 08/11/1996 từ Phái đoàn Thường trực của Azerbaijan tại Liên Hợp Quốc gửi cho Tổng Thư Ký, A/C.6/51/5, 8/11/1996.
  79  Để biết thêm thông tin, xem công hàm gửi Tổng thư ký “Việc sử dụng lính đánh thuê dưới hình thức vi phạm nhân quyền và cản trở việc thực hiện quyền tự quyết của các dân tộc”, A/49/362, tr 24-29, đoạn 69-72.
  80  Để biết thêm thông tin, xem báo cáo Chiến tranh chống lại Di sản Văn hóa Azerbaijan, A/62/691-S/2008/95, 13/02/2008.  

104. Trái ngược với rất nhiều báo cáo  của Yerevan chính thức rằng Armenia  không trực tiếp tham gia vào cuộc xung đột với Azerbaijan và chiếm đóng lãnh thổ và rằng "Nagorny Karabakh giành được độc lập theo các quy phạm pháp luật trong nước và quốc tế" (tài liệu A /63/781-S / 2009/156 là một ví dụ khác của việc hiểu sai như vậy), có nhiều bằng chứng chống lại những cáo buộc đó và chứng minh sự xâm lược quân sự trực tiếp của nước Cộng hòa Armenia đối với một nước có chủ quyền.81 Đồng thời, “NKR” trong biểu hiện hiện tại của nó là một thực thể bất hợp pháp được xây dựng một cách dân tộc và các cơ quan của nó cũng như vậy. Các khu vực của Nagorny Karabakh và các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng xung quanh vẫn còn dưới sự kiểm soát hiệu quả của Armenia.

105. Trong thực tế, các hành động của Armenia, theo và bao gồm cả việc cưỡng ép, tạo nên sự vi phạm chuẩn mực cơ bản về tôn trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, cũng như vi phạm các nguyên tắc pháp luật quốc tế khác có liên quan chẳng hạn như các quy tắc cấm sử dụng vũ lực.
 

VII. Hiện trạng của các lãnh thổ bị chiếm đóng của Azerbaijan
 
106. Quốc tế đã công nhận rằng các lãnh thổ của Azerbaijani đang bị chiếm đóng và rằng Armenia tham gia tích cực vào việc tạo ra và duy trì tình hình đó. Sự tồn tại và sự có mặt của Armenia tại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng được công nhận một cách rõ ràng bởi các cơ quan chính trị thuộc Liên Hợp Quốc, thông qua Liên minh Châu Âu, OSCE, Hội đồng Châu Âu và Tổ chức Hội nghị Hồi giáo, cùng với sự công nhận bởi các quốc gia riêng biệt. Theo đó, Armenia là một thế lực chiếm đóng bên trong ý nghĩa của các quy định pháp lý có liên quan.

107. Giai đoạn quan trọng cho việc xác định tình trạng của Armenia với tư cách là một thế lực chiếm đóng lãnh thổ Azerbaijan là vào cuối năm 1991 vì đây là khoảng thời gian mà Liên Xô tan rã và các quốc gia kế tục ra đời, do đó chuyển một xung đột nội bộ giữa hai Cộng hòa Liên bang trở thành một cuộc xung đột quốc tế.

108. Lợi dụng các kết quả thuận lợi của các hành động quân sự, Armenia đang cố gắng củng cố hiện trạng và cuối cùng áp đặt một tình huống bất khả kháng thông qua các biện pháp nhằm ngăn chặn những người Azerbaijan đã bị trục xuất trở về quê hương. Các biện pháp này bao gồm, ngoài những điều khác, tiếp tục tiến hành cư trú bất hợp pháp và các hoạt động kinh tế ở các vùng lãnh thổ bị _________________
  81  Xem ví dụ, báo cáo về sự chiếm đóng quân sự trên lãnh thổ Azerbaijan: một thẩm định pháp lý, phụ lục của lá thư đề ngày 08/10/2007 từ đại diện thường trực của Azerbaijan tại Liên Hợp Quốc gửi cho Tổng thư ký, A/62/491-S/2007/615, 23/10/2007, tr 5-8 ; A/63/662-S/2008/812, tr 7-8, đoạn 16-19; A/62/692-S/2007/51, tr 610, đoạn 17-33; Báo cáo của Tổng thư ký theo tuyên bố của Chủ tịch Hội đồng Bảo an trong tình huống liên quan đến Nagorny-Karabakh, đoạn 10 (S/25600, ngày 14 /4/1993); Văn phòng OSCE về Dân chủ và Nhân quyền, Quan sát bầu cử Tổng thống Cộng hòa Armenia, báo cáo cuối cùng, phần 8 (Ban hành 09/4/1998); Nhóm khủng hoảng, Nagorno-Karabakh: Nhìn nhận cuộc xung đột từ gốc, phần 9 (báo cáo Châu Âu số 166, ngày 14/9/2005); Thư của Đại biện lâm thời của Phái đoàn thường trực của Azerbaijan gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc (với bản sao các phụ lục), S/1994/147, 14/02/1994.
chiếm đóng kèm theo can thiệp nghiêm trọng và có hệ thống đối với quyền sở hữu.

109. Các nguồn, bao gồm cả Armenia, báo cáo về hàng chục người định cư mà đã di chuyển đến các lãnh thổ bị chiếm đóng của Azerbaijan, bao gồm các huyện nằm cạnh khu vực Karabakh, ví dụ như Lachyn, Kalbajar, Zangilan và Jabrayil. Các chứng cứ cho thấy rằng điều này đang được thực hiện theo một có tổ chức với mục đích thâu tóm các vùng lãnh thổ này. Vào năm 2000, “chương trình tái định cư” đã được thông qua với mục đích tăng dân số khu vực Nagorny Karabakh lên 300.000 trước năm 2010.

110. Armenia tiếp tục các biện pháp có chủ ý nhằm xây dựng quân sự tại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Azerbaijan. Cơ cấu kiểm soát vũ trang không hiệu quả tại các ãnh thổ của Azerbaijan bị Armenia chiếm. Sự tích tụ một số lượng lớn vũ khí và đạn dược tại các vùng lãnh thổ vượt quá sự kiểm soát quốc tế đã đặt ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh khu vực.

111. H Bị báo động cao bởi các tác động sâu rộng của hoạt động này, Azerbaijan đã yêu cầu giải quyết tình hình trong vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của mình tại Đại hội. Sáng kiến này xuất phát từ sự tin tưởng mạnh mẽ rằng cách duy nhất để đạt được một sự giải quyết công bằng, đầy đủ và toàn diện đối với cuộc xung đột giữa Armenia và Azerbaijan là một phương pháp tiếp cận dựa trên sự tôn trọng đầy đủ và rõ ràng dành cho các thư và tinh thần của luật pháp quốc tế.

112. Vào ngày 29/10/2004, tổng Thư ký đã quyết định thêm mục “Tình hình tại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Azerbaijan” trong chương trình nghị sự của phiên họp thứ 59. Vào ngày 11/11/ 2004, một báo cáo về sự chuyển giao dân cư sang các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Azerbaijan đã được đệ trình cho Đại Hội đồng.82 Sự xem xét của Đại Hội đồng về mục này đã đóng vai trò chủ chốt trong việc thu hút sự quan tâm đối với vấn đề về sự chuyển giao người định cư bất hợp pháp vào các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Azerbaijan cũng như khởi động các biện pháp cấp bách để chấm dứt sự thực thi nguy hiểm này.

113. Chuyến thăm của đoàn nghiên cứu OSCE đến các lãnh thổ bị chiếm đóng từ 30/01/2005 đã trở thành chuỗi logic về sang kiến của Azerbaijan nhằm nêu ra vấn đề trong tình huống tại các lãnh thổ bị chiếm đóng trước Đại hội đồng. Kết quả chính của hoạt động của đoàn là báo cáo dựa trên các số liệu toàn diện được cung cấp bởi Azerbaijan và được thu thập trong suốt quá trình nghiên cứu tình trạng của vùng. Đoàn đã khẳng định rõ ràng việc chuyển giao những người định cư sang các lãnh thổ bị chiếm đó, do đó nhấn mạnh các mối quan tâm của Azerbaijan.  Đến lượt họ, các Đồng Chủ tịch OSCE Minsk Group, tiến hành từ các kết luận có trong báo cáo của phái đoàn, đã nhấn mạnh sự không thể tiếp nhận những thay đổi về thành phần nhân khẩu học của khu vực và hối thúc các cơ quan quốc tế phù hợp thực hiện đánh giá nhu cầu đối với việc tái định cư của những người dân cư trú ở các lãnh thổ bị chiếm đóng và sự quay trở về của những người vô gia cư trong nước đến các __________________
  82   Thông tin về việc di chuyển dân cư vào các vùng lãnh thổ chiếm đóng của Azerbaijan, phụ lục của lá thư đề ngày 11/11/2004 từ đại diện thường trực của Azerbaijan tại Liên Hợp Quốc gửi cho Chủ tịch của Đại hội đồng, A/59/568, ngày 11 tháng 11 năm 2004.
địa điểm cư trú. Báo cáo và các khuyến nghị của các Đồng Chủ tịch OSCE Minsk Group mà dựa trên đó đã tạo cơ sở để cân nhắc và giải quyết vấn đề.83

114. Vấn đề về tình hình ở các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Azerbaijan cũng đã được đưa vào chương trình nghị sự của kỳ họp tiếp theo của Đại hội đồng.

115Ngày 07/9/2006, Đại hội đã thông qua nghị quyết 60/285 tựa đề "Tình hình ở các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Azerbaijan" như đề xuất của Azerbaijan liên quan đến các sự cố về cháy hàng loạt xảy ra tại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng.84

116. Nghị quyết nhấn mạnh sự cần thiết của việc tiến hành khẩn cấp hoạt động môi trường, và kêu gọi đánh giá tác động ngắn hạn và dài hạn của cháy rừng đối với môi trường của khu vực và phục hồi nó. Vì mục đích này, nghị quyết nhấn mạnh sự sẵn sàng của các bên tham gia hợp tác và kêu gọi các tổ chức, các chương trình của hệ thống Liên Hợp Quốc, đặc biệt là Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc để hợp tác với OSCE.

117. Đoàn nghiên cứu OSCE từ ngày 02-13 tháng 10 năm 2006 đã đánh giá tác động ngắn hạn và dài hạn của các vụ cháy đối với môi trường ở các vùng lãnh thổ bị ảnh hưởng và khẳng định, ngoài những điều khác, rằng "các đám cháy dẫn đến các thiệt hại về môi trường, kinh tế và sức khỏe, an ninh con người bị đe dọa.”.85

118. Ngày 14/3/2008, tại phiên họp lần thứ 62, Đại Hội đồng đã thông qua nghị quyết 62/243 về tình trạng của các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Azerbaijan. Quan tâm một cách nghiêm túc rằng sự xung đột vũ trang tại và xung quanh khu vực Nagorny Karabakh của Cộng hòa Azerbaijan tiếp tục gây nguy hiểm đến hòa bình và an ninh quốc tế, Đại Hội đồng tái khẳng định sự hỗ trợ mạnh mẽ liên tục dành cho chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hòa Azerbaijan trong biên giới được quốc tế công nhận, đòi hỏi việc thu hồi ngay lập tức, hoàn toàn và vô điều kiện tất cả lực lượng Armenia từ tất cả các vùng lãnh thổ chiếm đóng của nước Cộng hòa Azerbaijan. Hội đồng khẳng định rằng quyền Hội đồng tái khẳng định quyền bất khả xâm phạm của dân cư bị trục xuất khỏi các lãnh thổ bị chiếm đóng để trở về nhà của họ. Nó cũng công nhận sự cần thiết cung cấp các điều kiện sống bình thường, an toàn, và công bằng cho cộng đồng người Armenia và Azerbaijan trong khu vực Nagorny Karabakh của Cộng hòa Azerbaijan, mà cho phép xây dựng một hệ thống tự chủ dân chủ
__________________
  83  Thư đề ngày 18/3/2005 từ Đại diện thường trực của Azerbaijan tại Liên Hợp Quốc gửi cho Tổng thư ký. Phụ lục II: Báo cáo của đoàn nghiên cứu OSCE tại các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Azerbaijan xung quanh Nagorny Karabakh, A/59/747-S/2005/187, ngày 21/3/2005.
  84  Thư đề ngày 28/7/2006 từ Đại diện thường trực của Azerbaijan tại Liên Hợp Quốc gửi cho Tổng thư ký, truyền tải một bức thư ngày 28 /7/2006 của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Azerbaijan về vụ cháy trên diện rộng trong những vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Azerbaijan, A/60/963.
  85  Thư ngày 20/12/2006 từ Đại diện thường trực của Bỉ tại Liên Hợp Quốc gửi cho Tổng thư ký. Phụ lục: Đoàn đánh giá môi trường OSCEtại các vùng lãnh thổ bị cháy trong và xung quanh khu vực Nagorny Karabakh. Báo cáo gửi Chủ tịch OSCE từ Điều phối viên các hoạt động kinh tế và môi trường của OSCE, A/61/696.
hiệu quả trong khu vực thuộc Cộng hòa Azerbaijan. Đại Hội đồng cũng tái khẳng định rằng không có quốc gia nào công nhận là hợp pháp đối với tình trạng do sự chiếm đóng của các lãnh thổ của Cộng hòa Azerbaijan hoặc hỗ trợ để duy trì tình trạng này.

119. Trong chương 8 của nghị định 62/243, tại phiên họp lần thứ 62, Đại Hội đồng đã yêu cầu Tổng Thư ký đệ trình cho Đại hội đồng một báo cáo đầy đủ về việc thực hiện nghị định. Báo cáo này đã được ban hành vào ngày 30/3/2009 và sao chép các trả lời nhận được từ Chính phủ các nước thành viên của Liên Hiệp Quốc.86
 
 VIII. Nỗ lực hòa giải
 
 120. Kể từ tháng 2/1992, quá trình hòa giải về việc giải quyết các cuộc xung đột Armenia-Azerbaijan trong Hội nghị về An ninh và Hợp tác châu Âu (sau đây gọi là CSCE) 87 vẫn tiếp tục. Tại Hội nghị bổ sung của Hội đồng Bộ trưởng CSCE tổ chức tại Helsinki vào ngày 24/3/1992, một quyết định triệu tập hội nghị càng sớm càng tốt về Nagorny Karabakh ở Minsk dưới sự bảo trợ của CSCE để cung cấp một diễn đàn liên tục cho các cuộc đàm phán hướng tới một giải pháp hòa bình .

121. Nói chung, các thành phần pháp lý và chính trị để giải quyết cuộc xung đột dựa trên các chỉ tiêu và nguyên tắc của luật pháp quốc tế, quy định trong các nghị quyết của Hội đồng Bảo an 822 (1993), 853 (1993), 874 (1993) và 884 (1993) và nghị quyết Đại hội đồng 62/243, cũng như trong các văn bản, quyết định của OSCE và các tổ chức quốc tế khác thích hợp. Các nghị quyết của Hội đồng Bảo an nói trên đã được thông qua vào năm 1993 để đáp lại sự chiếm đóng của các vùng lãnh thổ của Azerbaijan và tái khẳng định tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và bất khả xâm phạm dành cho biên giới quốc tế của nước Cộng hòa Azerbaijan và tất cả các nước khác trong khu vực. Các nghị quyết yêu cầu chấm dứt ngay lập tức tất cả các hành động thù địch, và thu hồi ngay lập tức, hoàn toàn và vô điều kiện các lực lượng chiến đóng từ tất cả các vùng chiếm đóng của nước Cộng hòa Azerbaijan, và kêu gọi sự phục hồi kinh tế, giao thông vận tải và năng lượng liên kết khu vực, đảm bảo sự trở lại của người tị nạn và di dời nhà của họ. Hội đồng Bảo an cũng đã thông qua những nỗ lực của nhóm OSCE Minsk về việc đạt được các giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột và kêu gọi tìm kiếm các phương thức giải quyết xung đột trong quá trình OSCE Minsk. Không có nghị quyết nào trong số đó đã được thực hiện bởi Armenia.

122. Ngày 12/5/1994, thỏa thuận ngừng bắn đã được thiết lập. Theo quyết định tại Hội nghị Thượng đỉnh Budapest CSCE (5-6 tháng 12 năm 1994), Lãnh đạo Nhà nước và Chính phủ các nước tham gia CSCE thành lập văn phòng cho Đồng Chủ tịch của Hội nghị Minsk để điều phối toàn bộ __________________
  86  A/63/804 và Corr.1 và Add.1.
  87  Từ ngày 01/01/1995, CSCE đã chuyển thành Tổ chức vì An ninh và Hợp tác tại Châu Âu về khủng hoảng trên cơ sở các nguyên tắc, cam kết và quy định của CSCE đã được thông qua.
nỗ lực hòa giải bên trong khuôn khổ CSCE. Hội nghị thượng đỉnh Budapest giao cho Chủ tịch CSCE tiến hành các đàm phán nhằm kết thúc thỏa thuận chính trị về ngừng xung đột vũ trang mà việc thực hiện nó có thể dỡ bỏ các hậu quả xung đột và cho phép triệu tập Hội nghị Minsk. Hội nghị thượng đỉnh cũng thông qua quyết định triển khai các lực lượng gìn giữ hòa bình đa quốc gia CSCE sau khi đạt thỏa thuận giữa các bên về việc ngừng xung đột vũ trang và việc thành lập nhóm Hoạch định cấp cao tại Viên và nhằm mục đích chuẩn bị hoạt động gìn giữ hòa bình. Nó thay thế một Nhóm Kế hoạch Hành động được thành lập trước đó vào tháng 5 năm 1993.

123. Ngày 23/3/1995, Chủ tịch OSCE đã ban hành uỷ quyền cho các đồng Chủ tịch của Quá trình Minsk.88

124. Tại Hội nghị thượng đỉnh OSCE Lisbon giữa các lãnh đạo quốc gia và chính phủ của các nước tham gia CSCE, được tổ chức từ ngày 2-3/12/ 1996, Các Đồng Chủ tịch của Nhóm OSCE Minsk và Chủ tịch OSCE đã khuyến nghị các nguyên tắc nếu có cơ sở giải quyết tranh chấp Nagorny Karabakh. Armenia chỉ là 01 trong 54 quốc gia tham gia OSCE không ủng hộ họ.

125. Sau đó, Chủ tịch OSCE đã tuyên bố với việc bao gồm các nguyên tắc đó. Đó là:  – toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hòa Armenia và Cộng hòa Azerbaijan; - Tình trạng pháp lý của Nagorno-Karabakh được định nghĩa trong một thỏa thuận trên cơ sở tự quyết mà trao cho Nagorno-Karabakh mức độ tự trị cao nhất bên trong Azerbaijan; - An ninh được bảo đảm cho Nagorno-Karabakh và toàn bộ dân cư, bao gồm cả nghĩa vụ đảm bảo sự tuân thủ của tất cả các bên với các quy định giải quyết.

126. Sau Hội nghị thượng đỉnh Lisbon, văn phòng của Đồng Chủ tịch ba nước bao gồm  Nga, Pháp và Mỹ đã được thành lập năm 1997 (từ năm 1992, Chủ tịch của Hội nghị Minsk tại Ý năm 1992-1993, Thụy Điển năm 1994, Nga và Phần Lan năm 1995-1996). Kể từ 4/1997, các đàm phán đã bị hoãn và thay thế bởi các chuyến thăm của Đồng Chủ tịch đến khu vực. Ngày 01/6/1997, Đồng Chủ tịch đã trình bày dự thảo thỏa thuận toàn diện về việc giải quyết tranh chấp Nagorny Karabakh, bao gồm Thỏa thuận về việc ngừng xung đột vũ trang và Thỏa thuận về tình trạng của Nagorny Karabakh. Mặc dù  Azerbaijan sẵn sàng bắt đầu tham vấn xây dựng về nội dung các văn bản nêu trên, Armenia đã bác bỏ phương pháp được đề xuất.

127. Ngày 19-23 /9/1997, trong chuyến thăm của mình tới khu vực, các Đồng chủ tịch đã trình bày các đề xuất mới dựa trên cách tiếp cận "từng giai đoạn" để giải quyết, theo như kế hoạch ở giai đoạn đầu tiên để giải phóng sáu huyện bị chiếm đóng, triển khai các hoạt động gìn giữ hòa bình OSCE, để trả lại người di tản đến những vùng chưa được giải phóng và khôi phục thông tin liên lạc chính ở khu vực xung đột. Ở giai đoạn thứ hai, các vấn đề của Lachyn và Shusha đã được giải quyết và các nguyên tắc chính của tình trạng Nagorny Karabakh đã được thông qua. Kết quả là, Hội nghị OSCE Minsk phải được triệu tập. Ngày 10/10/1997, trong tuyên bố tại Strasbourg, Tổng thống Azerbaijan __________________
  88  OSCE Doc. 525/95.  
và Armenia đã chỉ ra rằng “các đề xuất gần đây của các Đồng Chủ tịch là cơ sở hy vọng cho nối lại đàm phán trong khuôn khổ của Nhóm Minsk”.

128. Nhưng sau khi Tổng thống Levon Ter-Petrossian của nước Cộng hòa Armenia từ chức vào tháng 2 năm 1998 và Robert Kocharian lên nắm quyền tháng 3 năm 1998,  chuyến thăm tiếp theo của Đồng Chủ tịch đến khu vực đã diễn ra, khi Armenia đã chính thức rút sự đồng tình với đề nghị về giải quyết cuộc xung đột "theo từng giai đoạn".

129. Ngày 9/11/1998, các Đồng Chủ tịch đã đưa ra các đề xuất dự trên khái niệm một “nhà nước chung”. Theo khái niệm này, Nagorny Karabakh sẽ có tư cách của một nhà nước và đơn vị lãnh thổ theo hình thức một nước cộng hòa, trong đó, cùng với Azerbaijan, sẽ tạo thành các nhà nước chung trong biên giới được quốc tế công nhận của Azerbaijan. Azerbaijan đã từ chối những đề nghị chừng nào họ không quan tâm đến chủ quyền và mâu thuẫn với các nguyên tắc Lisbon. Kể từ đó không có đề xuất mới nào được thực hiện và quá trình Minsk thực tế đã gặp bế tắc.

130. Để tiếp thêm động lực cho các cuộc đàm phán, kể từ tháng 4 năm 1999 các cuộc đàm phán trực tiếp giữa Chủ tịch Azerbaijan và Armenia về thành tựu giải quyết cuộc xung đột đã diễn ra.

131. Trong chuyến thăm tới khu vực này tháng 3 năm 2002 của Nhóm OSCE Minsk, Đồng Chủ tịch đề nghị tiến hành đàm phán ở cấp độ của đại diện đặc biệt của Tổng thống Azerbaijan và Armenia. Đề xuất này được chấp nhận bởi những người đứng đầu của cả hai nước. Vào ngày 13-15 và 29-30 tháng 7 năm 2002, hai cuộc họp của đại diện đặc biệt của Tổng thống Armenia và Azerbaijan đã diễn ra gần Prague.

132. Kể từ năm 2004, các cuộc hội đàm trực tiếp giữa các Bộ trưởng Ngoại giao của Armenia và Azerbaijan đã bắt đầu bên trong "Quá trình Prague”.

133. Tuy nhiên, dù đã có những dấu hiệu tích cực trong nỗ lực tìm một giải pháp cho cuộc xung đột, các bên vẫn không đạt được một bước đột phá đáng kể. Các Đồng Chủ tịch Nhóm OSCE Minsk đã báo cáo với Hội đồng Thường trực OSCEvào ngày 22 tháng 6 2006 rằng trong bảy tháng qua họ đã tăng cường các nỗ lực hòa giải và làm việc chăm chỉ để đạt được sự thỏa thuận của cả hai bên trên các nguyên tắc cơ bản để giải quyết. Với mục đích đó, họ đã đến thăm Baku và Yerevan ba lần cùng nhau và nhiều chuyến đi riêng, tổ chức hai cuộc họp giữa Bộ trưởng Ngoại giao Armenia và Azerbaijan và hai hội nghị thượng đỉnh giữa Tổng thống của cả hai quốc gia - đầu tiên ở Rambouillet trong tháng 2 và sau đó ở Bucharest trong đầu tháng 6. Lần đầu tiên kể từ năm 1997, khi định dạng hiện tại của Đồng Chủ tịch Nhóm Minsk được thành lập, một đoàn đại diện chung của các nước Đồng chủ tịch ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao đã đến khu vực này vào tháng 5 để làm rõ với Tổng thống của cả hai quốc gia rằng năm 2006 là cửa sổ cơ hội cần thiết để đạt được thỏa thuận về Nagorny Karabakh.

134. Theo các Đồng Chủ tịch, một loạt nguyên tắc chủ yếu đã được đề xuất đến Tổng thống Aliyev và Kocharian. Họ đã xác định rõ rằng cách tiếp cận của họ không nhằm giải quyết toàn bộ các khía cạnh của mâu thuẫn trong một giai đoạn. Thay vào đó, theo lời của các Đồng Chủ tịch, các nguyên tắc của họ nhằm đạt được một cấp độ tiến bộ chủ yếu nhưng đã hoãn lại một số vấn đề rất khó khăn đối với tương lai và hình dung ra các cuộc đàm phán thêm.

135. Tuy nhiên, Các Đồng Chủ tịch nói rằng kể từ khi hai Chủ tịch không tán thành được, họ đã đạt đến giới hạn của sự sáng tạo trong việc xác định, xây dựng và hoàn thiện các nguyên tắc. Họ đã xác định rõ rằng nếu hai bên không thể thỏa thuận về những nguyên tắc, vốn đã được đưa ra, phụ thuộc vào các bên tự làm việc cùng nhau để đạt được một thỏa thuận thay thế mà cả hai thấy chấp nhận được. Các Đồng Chủ tịch đã chỉ ra rằng họ không thấy có điểm trong việc tiếp tục ngoại giao con thoi và tổ chức thêm các cuộc họp giữa hai tổng thống.

136. Để đáp lại tuyên bố của Nhóm Minsk,  Các Đồng Chủ tịch và các ý kiến đóng góp từ phía Armenia, mà cố gắng làm sai lệch thực tế của quá trình giải quyết, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Azerbaijan đã làm rõ, ngoài những điều khác, rằng định nghĩa về tình trạng pháp lý của vùng Nagorny Karabakh của Cộng hòa Azerbaijan là không khả thi theo các điều kiện về tiếp tục chiếm đóng và thanh trừng sắc tộc và, theo đó, dự kiến giải phóng các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Azerbaijan, phi quân sự hóa toàn khu vực xung đột, cung cấp bảo đảm về an ninh quốc tế thích hợp trong đó và đưa những người dân bị buộc phải di dời của Azerbaijan trở về nhà của họ.

137Azerbaijan lần nữa khẳng định sự sẵn sàng trao cho Nagorny Karabakh tình trạng tự trị cao nhất bên trong sự toàn vẹn lãnh thổ quốc tế công nhận của nước Cộng hòa Azerbaijan và dựa trên Hiến pháp của nó.

138. Bộ cũng chỉ ra rằng với mục đích thiết lập hòa và hòa hợp cũng như tạo ra các điều kiện có mục tiêu để xác định tình trạng của vùng và cũng xem xét sự phát triển hơn nữa của khu vực, Azerbaijan sẽ sẵn sàng xem xét, theo các thông lệ quốc tế có sẵn, việc thực hiện một loạt mục tiêu kinh tế và mục tiêu khác đối với dân cư Nagorny Karabakh sau khi khôi phục thành phần dân tộc như các giai đoạn trước cuộc xung đột.

139. Theo đó, sự tuân thủ của Azerbaijan trong việc tiếp tục đàm phán để đạt được hòa bình bền vững và công bằng trong khu vực đã liên tục được tái khẳng định.

140. Ngày 13/7/2007, các Đồng Chủ tịch của Nhóm OSCE Minsk đã ban hành tuyên bố trong đó cung cấp sự đánh giá về tình hỉnh nổi lên trong quá trình giải quyết tranh chấp theo cuộc họp giữ Tổng thống Cộng hòa Azerbaijan, Ilham Aliyev, và Tổng thống Cộng hòa Armenia, Robert Kocharian, tại St. Petersburg ngày 9//6/2007. Các Đồng Chủ tịch tuyên bố rằng trong suốt cuộc họp, các Tổng thống đã tập truing thảo luận một số trở ngại trong việc thỏa thuận một loạt “nguyên tắc cơ bản” đối với việc giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình. Các Đồng Chủ tịch cũng tuyên bố thêm rằng các Tổng thống không thể vượt qua các khác biệt còn lại. Các Đồng Chủ tịch cũng nhấn mạnh sáng kiến tổ chức một chuyến thăm chung đến khu vực Nagorny Karabakh, Yerevan và Baku cho nhóm trí thức từ Azerbaijan và Armenia. Các Đồng Chủ tịch cũng ủng hộ và đánh giá cao sự kiện đó mà họ coi là một biện pháp xây dựng niềm tin cụ thể đầu tiên.

141. Trong tuyên bố của mình sau khi Đại hội đồng thông qua Nghị quyết 62/243 ngày 14 tháng 3 năm 2008, Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Azerbaijan đã làm rõ rằng bản dự thảo báo cáo về "các nguyên tắc cơ bản" cho giải quyết hòa bình các cuộc xung đột do các Đồng Chủ tịch nhóm OSCE Minsk chuẩn bị, chứa đựng nhiều bất đồng và các vấn đề tồn đọng hơn là sự rõ ràng.

142. Ngày 02 tháng 11 năm  2008, Chủ tịch Armenia, Azerbaijan và Liên bang Nga đã ký một tuyên bố chung tại Moscow. Tài liệu này tuyên bố rằng ngoài những điều khác, các bên ký kết "sẽ hướng tới việc cải thiện tình hình ở Nam Cáp-ca-dơ và thiết lập sự ổn định và an ninh trong khu vực thông qua một giải pháp chính trị của cuộc xung đột Nagorny Karabakh, trên cơ sở các nguyên tắc và chuẩn mực của luật pháp quốc tế và các quyết định và văn bản được thông qua trong khuôn khổ này, mà sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế và hợp tác toàn diện trong khu vực ". Do đó, nguyên thủ ba quốc gia đã nhấn mạnh rằng các nguyên tắc và chuẩn mực của luật pháp quốc tế và các quyết định và văn bản được thông qua trong khuôn khổ này, mà chắc chắn bao gồm đầu tiên các nghị quyết của Hội đồng Bảo an năm 1993 cũng như các nghị quyết của Đại hội năm 2006 và 2008 , là cơ sở của một giải pháp chính trị cho cuộc xung đột giữa Armenia và Azerbaijan.

143. Vấn đề giải quyết xung đột được giải quyết thường xuyên ở tất cả các cuộc họp Thượng đỉnh và Hội đồng Bộ trưởng OSCE , trong đó nhấn mạnh chung về tầm quan trọng của cuộc đối thoại hòa bình và những nỗ lực để đạt được sự giải quyết sớm cuộc xung đột dựa trên các chỉ tiêu và nguyên tắc của luật pháp quốc tế.

144. Vấn đề về hậu quả của cuộc xung đột cũng vẫn còn trong chương trình nghị sự của Hội đồng Châu Âu. Vì vậy, việc xem xét vấn đề khúc mắc trong phiên tháng 1 năm 2005 của Hội đồng châu Âu Nghị viện dẫn đến việc phê duyệt nghị quyết1416 mang tên "Cuộc xung đột trên vùng Nagorno-Karabakh xử lý tại Hội nghị OSCE Minsk". Hội đồng Nghị viện khẳng định lại sự chiếm đóng một phần đáng kể lãnh thổ của Azerbaijan và bày tỏ mối quan tâm của mình rằng hành động quân sự, và các hành động thù địch dân tộc phổ biến trước nó đã dẫn đến sự trục xuất dân tộc có quy mô lớn và tạo ra các khu vực đơn dân tộc giống với khái niệm thanh trừng sắc tộc khủng khiếp. Hội đồng đã làm rõ rằng việc chiếm đóng lãnh thổ nước ngoài bởi một quốc gia thành viên cấu thành một vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của nhà nước dưới tư cách một thành viên của Hội đồng châu Âu và tái khẳng định quyền của người di tản khỏi khu vực xung đột để trở về nhà một cách an toàn và được tôn trọng. Hội đồng cũng nhắc lại các nghị quyết liên quan của Hội đồng Bảo an và kêu gọi các bên liên quan thực hiện đúng, đặc biệt bằng cách rút các lực lượng quân sự từ bất kỳ vùng lãnh thổ bị chiếm đóng nào.
 
 

IX. Vị thế của Azerbaijan trong việc giải quyết tranh chấp
 
145. Mặc dù các nỗ lực hòa giải được tiến hành một thời gian dài trong khuôn khổ của OSCE không luôn luôn nhất quán và chưa mang lại kết quả, Azerbaijan tiếp tục cam kết giải quyết cuộc xung đột bằng phương tiện chính trị và theo một cách mang tính xây dựng.

146. Chiến lược của Chính phủ Azerbaijan là nhằm mục đích giải phóng tất cả các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, sự trở lại của người vô gia cư về nhà của họ và sự thiết lập hòa bình và ổn định bền trong khu vực Nagorny Karabakh của Azerbaijan, cũng như ở toàn bộ Nam Cáp-ca-dơ.

147. Giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết cung cấp sự bổ sung và định nghĩa cho mô hình và khuôn khổ pháp lý về tình trạng của khu vực Nagorny Karabakh bên trong Azerbaijan. Nói rằng, Azerbaijan tin rằng quá trình định nghĩa về tình trạng bất kỳ sẽ diễn ra trong điều kiện hòa bình bình thường với sự tham gia trực tiếp, đầy đủ và bình đẳng của toàn bộ dân cư khu vực, cụ thể là, cộng đồng người Armenia và Azerbaijan, và trong sự tương tác mang tính xây dựng của họ với Chính phủ Azerbaijan nói riêng trong khuôn khổ của một quá trình hợp pháp và dân chủ.

148. Một số bước quan trọng phải được thực hiện để đạt được một giai đoạn mà các bên liên quan có thể bắt đầu xem xét tình trạng tự trị đối với khu vực Nagorny Karabakh bên trong Azerbaijan.

149. Thứ nhất, yếu tố chiếm đóng quân phải được loại bỏ khỏi bối cảnh giải quyết xung đột. Sự chậm trễ trong việc trả lại các vùng lãnh thổ, mà không được hợp lý hóa bởi bất kỳ lý do đáng kể nào, có thể làm phức tạp quá trình giải quyết vốn đã khó khăn.

150. Thứ hai, tình hình nhân khẩu học vốn có ở khu vực trước sự bùng nổ của cuộc xung đột phải được phục hồi. Rõ ràng là tình trạng chỉ có thể được xác định thông qua sự tham gia trực tiếp của cả hai cộng đồng Azerbaijan và Armenia, cùng chung sống tại Nagorny Karabakh.

151. Thứ ba, chế độ tương tác giữa các cơ quan trung ương của Azerbaijan và chính quyền địa phương của cộng đồng Armenia phải được thành lập, cho đến khi tình trạng tự trị pháp lý mới đối với khu vực Nagorny Karabakh được xây dựng.

152. Một yếu tố quan trọng khác là phục hồi và phát triển kinh tế của khu vực. Bước này rất cần thiết cho quá trình bình thường của đời sống và khôi phục sự chung sống hoà bình và hợp tác giữa hai cộng đồng. Nó sẽ bao gồm việc phục hồi và phát triển liên kết kinh tế giữa hai cộng đồng, cũng như giữa các cơ quan trung ương của Azerbaijan và vùng Nagorny Karabakh, và khôi phục, mở thông tin liên lạc cho sử dụng chung của cả hai bên theo hai hướng. Điều này đặc biệt cung cấp một kết nối cho người dân Armenia của vùng Nagorny Karabakh với Armenia, và cho Azerbaijan với Cộng hòa tự trị của Nakhchyvan thông qua đường Lachyn.

153. Yếu tố thứ năm đòi hỏi sự hợp tác giữa hai cộng đồng trong lĩnh vực nhân đạo, và thực hiện các chương trình đặc biệt về giáo dục và khoan dung.

154. Đối với việc thực hiện các thỏa thuận hòa bình được ký kết giữa Armenia và Azerbaijan, nó sẽ được đảm bảo bởi các cam kết của hai bên theo Hiệp định này, và do các bảo lãnh quốc tế có liên quan.

155. Rõ ràng cùng một lúc mà sự thành công của tiến trình hòa bình phụ thuộc vào cách tiếp cận mang tính xây dựng một của cả hai bên, cũng như vào sự đóng góp tích cực của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là của Nhóm OSCE Minsk và các Đồng Chủ tịch của nó.

156. Tuy nhiên, khó có thể hy vọng cho một bước đột phá đáng kể xét từ một vị trí mà trong đó vẫn còn tồn tại Armenia. Thật vậy, chính xác là cho các mục đích của sự ly khai đơn phương mà Armenia muốn giữ lại quyền kiểm soát một số huyện bị chiếm đóng quanh Nagorny Karabakh, ngăn ngừa người dân Azerbaijan trở về nhà của họ và do đó không bao gồm việc xem xét công bằng ý kiến của cả cộng đồng. Rõ ràng là phương pháp tiếp cận này của Armenia không thể là một nền tảng vững chắc cho việc giải quyết xung đột.

157. Trong khi cam kết giải quyết cuộc xung đột một cách hòa bình và mang tính xây dựng, Azerbaijan, tuy nhiên, sẽ không bao giờ chấp nhận một giải pháp thỏa hiệp toàn vẹn lãnh thổ của mình, bỏ qua các quyền của người dân và hợp thức hóa tình trạng hiện tại. Nếu không, sẽ tương đương với việc hợp pháp hóa những hậu quả của thanh lọc sắc tộc và các vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật và các quyền con người khác.

158. Các cuộc xung đột chỉ có thể được giải quyết trên cơ sở tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ và bất khả xâm phạm của biên giới được quốc tế công nhận của Azerbaijan, và chung sống hoà bình của cộng đồng người Armenia và Azerbaijan trong khu vực Nagorny Karabakh, hưởng đầy đủ các quyền lợi của dân chủ và thịnh vượng một cách công bằng.
159. Việc tiếp tục tình hình "không có hòa bình không có chiến tranh" không có triển vọng cụ thể cho việc giải quyết sớm nhất mâu thuẫn là nguồn bất ổn định chính trong toàn vùng Nam Cáp-ca-dơ.

Free counters!